LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN




tải về 76.22 Kb.
TênLỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN
Chuyển đổi dữ liệu10.10.2012
Kích76.22 Kb.
loạiTài liệu
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN


Vĩnh Tường từ xưa không chỉ được xem là nơi sản vật phong túc, cảnh trí hữu tình mà còn là vùng đất anh hùng, miền quê văn hiến, giàu truyền thống Lịch sử - Văn hóa và cách mạng. Có nhiều danh thần, danh tướng phò vua giúp nước, chống giặc ngoại xâm, có những người từng là thủ lĩnh của cả một phong trào yêu nước ở tầm cỡ quốc gia.

Theo truyền thuyết, thời Hùng Vương, ở Bích Đại - Đồng Vệ (thuộc xã Đại Đồng ngày nay) có tướng Đinh Thiên Tích, sức khoẻ lạ thường, có công giúp vua đánh giặc ngoại xâm. Thời Hai Bà Trưng, ở xã Lũng Hoà có bà Lê Thị Ngọc Trinh được phong "Tả tướng quân", chỉ huy quân bán bộ, tham gia cuộc tấn công vào thủ phủ của Tô Định. Dưới triều Lý, nhân dân Bạch Hạc tham gia kháng chiến chống quân Tống từ Vân Nam sang và tham gia xây dựng phòng tuyến sông Cầu. Thời Trần, nhân dân đã giúp Trần Hưng Đạo luyện quân ở ngã ba Bạch Hạc. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh dưới triều Hồ Quý Ly, nhân dân đã tham gia dựng bãi cọc ở Bạch Hạc.

Chống lại chế độ tàn bạo của chúa Trịnh, nhân dân vùng Chấn Hưng. Đại Đồng, Nghĩa Hưng… đã tham gia cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Danh Phương lãnh đạo Nghĩa quân đã thiết lập được địa bàn hoạt động rộng lớn, kiểm soát các huyện Yên Lãng, Yên Lạc, Bạch Hạc.

Khi thực dân Pháp đem quân đánh chiếm miền Bắc, ở Thượng Trưng có ông Nguyễn Quý Tân là lãnh binh Sơn Tây cai quản cả vùng Hưng Hoá, Vĩnh Yên. Ông đã cùng Bùi Quang Đại là Phó Hiệp quản tỉnh Sơn Tây chiêu mộ quân chống lại triều đình hèn nhát và quân Pháp xâm lược. Nhân dân Vĩnh Tường còn tham gia các cuộc khởi nghiã do Nguyễn Quang Bích, Đốc Giang, Tuần Bốn, Đốc Khoát, Đốc Huỳnh chỉ huy.

Tham gia chiến đấu trong đội quân của Hoàng Hoa Thám có Nguyễn Hữu Hoà là cháu đích tôn của Nguyễn Quý Tân. Nguyễn Hữu Hoà giữ chức Đội (thường gọi là Đội Hoà) là một trong những người cầm quân tài giỏi, chỉ huy quân hoạt động ở Vĩnh Tường, Tam Dương.

Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917 do Trịnh Văn Cấn người xã Vũ Di cùng Lương Văn Can lãnh đạo chống thực dân Pháp xâm lược. Sau cuộc nổi dậy ở Thái Nguyên, Đội Cấn đã rút quân về quê hương tiếp tục tổ chức chiến đấu. Hoàng Xá (Kim Xá) là nơi diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt của nghĩa quân.

Nguyễn Thái Học người xã Thổ Tang cùng các huynh đệ của mình đã lập ra Việt Nam Quốc dân Đảng là một chính đảng đại diện cho giai cấp tư sản Việt Nam mới ra đời. Ông đã tuyên truyền vận động, gây dựng và phát triển phong trào ở quê hương mình đứng lên chống Pháp. Các xã Thổ Tang, Đại Đồng, Vĩnh Sơn, Vũ Di đã tham gia tích cực phong trào yêu nước này. Do hạn chế về chính trị nên đường lối và phương pháp cách mạng của Việt Nam Quốc dân Đảng đã phạm sai lầm làm cho phong trào nhanh chóng thất bại.

Ngày 3-2-1939, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc. Là địa bàn có tổ chức và phong trào mạnh mẽ của tỉnh Vĩnh Yên, Vĩnh Tường đã nhanh chóng nắm bắt và triển khai nhiều hoạt động cách mạng. Các tổ chức Nông hội đỏ và Phụ nữ giải phóng ở Đại Đồng là cơ sở tiếp nhận sự lãnh đạo của Đảng, sau đó lan rộng ra các xã Thượng Trưng, Tân Cương, Vũ Di…Các hoạt động rải truyền đơn diễn ra sôi nổi ở nhiều nơi như Đại Đồng, Tam Phúc, Vũ Di, Tứ Trưng…Mặc dù thực dân Pháp điên cuồng đàn áp nhưng phong trào vẫn không bị dập tắt.

Khi phong trào cách mạng ở Vĩnh Tường phát triển mạnh lên, Xứ ủy Bắc Kỳ đã chỉ đạo cho Vĩnh Tường thành lập Chi bộ Đảng, để lãnh đạo phao trào cách mạng. Cuối tháng 8-1938, đồng chí Hoàng Văn Thụ (Xứ uỷ Bắc Kỳ) đã về kiểm tra cơ sở và phong trào cách mạng ở Vĩnh Tường. Đồng chí đã gặp và tổ chức kết nạp các đoàn viên ưu tú vào Đảng là Lê Xoay (xã Vũ Di). Nguyễn Tráng (xã Tân cương) và Nguyễn Văn Hành (Tân Cương). Đồng chí Lê Xoay được chỉ định làm Bí thư Chi bộ Vĩnh Tường là một trong những Chi bộ đầu tiên của tỉnh Vĩnh Phúc và là tiền thân của Ban cán sự Đảng Vĩnh Yên.

Tháng 4 - 1941, Phủ ủy Vĩnh Tường được thành lập và có tổ chức Đảng ba cấp: huyện - tổng - xã đầu tiên ở Vĩnh Phúc. Sự kiện này có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt tổ chức xây dựng Đảng, có thể coi Phủ ủy là Huyện ủy lâm thời của Vĩnh Tường thời kỳ này. Từ đó, phong trào cách mạng ở Vĩnh Tường ngày càng phát triển rộng khắp. Nhân dân Vĩnh Tường đã đồng lòng dùng sức tham gia các hoạt động của Việt Minh và các tổ chức quần chúng. Ngày 21-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Vĩnh Tường đã nhất tề nổi dậy cướp chính quyền.

Tháng 3-1947, Ban Chỉ huy quân sự huyện được thành lập, mỗi xã đều có một đến ba trung đội dân quân tự vệ, đồng chí Nguyễn Tiến người Thổ Tang là Chỉ huy trưởng. Ngày 19-8- 1949, Đại đội Lê Xoay được thành lập và chiến đấu vô cùng anh dũng, lập nhiều chiến công oanh liệt, góp phần giải phóng quê hương.

Đảng bộ và nhân dân huyện Vĩnh Tường đã kiên cường chiến đấu giữ đất, giữ làng. Các đội du kích trong xã phối hợp với bộ đội huyện và tỉnh chặn đánh nhiều đợt tấn cồng của địch. Các trận đánh ở Phong Doanh, Tứ Trưng, Ngũ Kiên, Thượng Trưng, Cao Đại, Vĩnh Thịnh…du kích và bộ đội địa phương đã tiêu diệt hàng trăm tên địch. Chỉ tính từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1953, quân và dân Vĩnh Tường đã tiêu diệt 1.156 tên, làm bị thương 346 tên, bắt sống 689 tên.

Bên cạnh việc chiến đấu giữ đất, giữ làng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Vĩnh Tường còn tích cực tăng gia, lao động sản xuất và xây dựng lực lượng. Nhân dân Vĩnh Tường không những đã vượt qua nạn đói mà còn huy động được hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm cho bộ đội, du kích địa phương và tiếp tế, chi viện cho tiền tuyến, góp sức cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử.

Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Vĩnh Tường đã tham gia chiến đấu 312 trận, tiêu diệt 3.500 tên địch, bắt sống và gọi hàng gần 1000 tên, thu nhiều vũ khí, súng đạn, phá hủy hàng chục xe cơ giới và các phương tiện chiến tranh khác của địch. Huyện có 4.200 người tham gia lực lượng vũ trang, trên 10.000 lượt người đi dân công hỏa tuyến. Nhiều địa phương tiêu biểu là những pháo đài quật cường thắng giặc với những chiến công lớn như Thượng Trưng, Tuân Chính, Đại Đồng, Bình Dương, Vũ Di, Ngũ Kiên,…Trong những năm kháng chiến, nhân dân Vĩnh Tường đã đóng góp cho tiền tuyến 3.000 tấn lương thực và 1.200 tấn thực phẩm cùng nhiều hàng hóa, vật dụng khác. Nhiều gương chiến đấu ngoan cường hi sinh dũng cảm tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đó là các đồng chí Bí thư Huyện uỷ Trần Minh Chưng, Hồng Hà; nhiều đồng chí bí thư chi bộ; nhiều cấp uỷ viên, cán bộ Uỷ ban Kháng chiến hành chính; các đồng chí chỉ huy bộ đội, du kích cùng nhiều gia đình và những người dân bình thường là cơ sở nuôi giấu, cưu mang cán bộ, du kích, bộ đội bất chấp nguy hiểm. Từ những thành tích chiến đấu ấy, nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Vĩnh Tường và 9 xã của huyện (Vũ Di, Thượng Trưng, Bình Dương, Tân Cương, Tuân Chính, Đại Đồng, Cao Đại, Ngũ Kiên, Tân Cương) cùng 01 cá nhân (Anh hùng Liệt sỹ Chu Văn Khâm) đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang trong thời kỳ chống Pháp.

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân trong huyện đã hăng hái lao động, sản xuất, khai hoang hàng trăm mẫu ruộng, nâng cấp đường giao thông…

Với khẩu hiệu "Một người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt", nhân dân Vĩnh Tường luôn đi đầu trong phong trào đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến. Bình quân mỗi năm, nhân dân Vĩnh Tường đóng góp 6.000 tấn lương thực, 1.000 tấn thực phẩm, 1.200 tấn đỗ, lạc các loại; tỷ lệ đóng góp lương thực, thực phẩm của huyện bằng 1/3 tổng số lương thực, thực phẩm tỉnh đóng góp.

Khi giặc Mỹ mở cuộc chiến tranh bằng không quân đánh phá miền Bắc, huyện Vĩnh Tường đã thành lập một đại đội trực chiến cấp huyện; mỗi xã thành lập một đại đội dân quân tự vệ để sẵn sàng chiến đấu. Mỹ đã dùng hàng trăm lượt máy bay đánh phá ác liệt các trọng điểm trên địa bàn huyện như bến phà Vĩnh Thịnh, xã An Tường, Bồ Sao,Việt Xuân, Chấn Hưng… Nhưng nhân dân Vĩnh Tường vẫn phối hợp vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Nhiều người con của quê hương đã chiến đấu anh dũng trên các chiến trường, tiêu biểu như: Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân với khẩu hiệu nổi tiếng "Nhằm thẳng quân thù mà bắn", Anh hùng lực lượng vũ trang Bùi Anh Tuấn, Nguyễn Văn Thoa, người trong vòng 3 năm (1972- 1974) đã bắn cháy 13 máy bay "thần sấm" của Mỹ.

Trong 20 năm kháng chiến chống Mỹ, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, Vĩnh Tường đã đưa 29.600 lượt thanh niên lên đường nhập ngũ, 2.800 người tham gia lực lượng thanh niên xung phong. Tổng số người tham gia chiến đấu chiếm 28% dân số của huyện. Vĩnh Tường cũng đã đóng góp cho tiền tuyến 380.000 tấn lương thực, 14.000 tấn thực phẩm cùng 12 triệu ngày công phục vụ chiến đấu. Kết quả từ những phong trào thi đua yêu nước và kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Vĩnh Tường có 01 tập thể (HTX Tứ Trưng) và 01 cá nhân.

(Anh hùng Nguyễn Văn Tần, xã Bình Dương) được Đảng - Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động; 04 cá nhân (Anh hùng Liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân, Anh hùng Liệt sỹ Bùi Anh Tuấn; Anh hùng Nguyễn Văn Thực; Anh hùng Nguyễn Văn Thoa) được Đảng- Nhà nước phong tặng AHLLVT thời kỳ chống Mỹ. Toàn huyện có 178 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; nhiều cá nhân và gia đình được tặng bằng có công với nước.

Sau năm 1975, đặc biệt kể từ năm 1977 đến năm 1995, huyện Vĩnh Tường sáp nhập với huyện Yên Lạc thành huyện Vĩnh Lạc. Trong quá trình đó, huyện đã có nhiều nghị quyết về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, làm cho bộ mặt huyện ngày càng đổi mới, xây dựng địa phương thành huyện tiên tiến của tỉnh Vĩnh Phú.

Tháng 1- 1996, huyện Vĩnh Tường được tái lập. Với những kết quả đạt được trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới, huyện Vĩnh Tường tiếp tục phát huy tiềm năng, thế mạnh, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, từ khi tái lập, huyện Vĩnh Tường vẫn luôn đạt được những kết quả đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực.


Giai đoạn (1996 - 2000):


Ngày 7-10-1995, Chính phủ ra Nghị định 63 NĐ-CP tách Vĩnh Lạc thành hai huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc. Từ 01- 01-1996, huyện Vĩnh Tường đi vào hoạt động với 28 xã và thị trấn Vĩnh Tường. Tỉnh uỷ Vĩnh Phú ra quyết thành lập Đảng bộ huyện Vĩnh Tường. Đảng bộ huyên Vĩnh Tường nhanh chóng đi vào toàn bộ máy, tổ chức sắp xếp cán bộ, ổn định tình hình thực hiện tất các nhiệm vụ kinh tế, văn hoá, xã hội.

Trên lĩnh vực kinh tế, huyện tiếp tục đẩy mạnh công đổi mới một cách đồng bộ, toàn diện. Trước hết là sản xuất nông nghiệp, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đảng bộ huyện Vĩnh Tường đã tập trung lãnh đạo sản xuất lương thực bằng việc giữ ổn định diện tích gieo trồng của cả ba vụ. Nông dân đã mở rộng diện tích vụ đông ra diện rộng, số diện tích đất một vụ không ăn chắc được chuyển thành mô hình trang trại có cơ cấu lúa xen cá, trên bờ trồng cây ăn quả.

Việc chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu cây, con, mở mang ngành nghề diễn ra sôi nổi ở các xã Đại Đồng, Thượng Trưng, Vũ Di, Ngũ Kiên, Tân Cương, Chấn Hưng. Xã Thổ Tang đã tạo nên "phong cách" mới của người làm nghề nông là vừa gắn với đồng ruộng vừa buôn bán, dịch vụ theo mô hình hợp tác xã nông, công, thương, tín. Nông dân trong huyện thực hiện chuyển dịch cơ cấu giống, thời vụ, lúa chiêm xuân, lúa mùa và chuyển dịch cơ cấu cây vụ đông; đồng thời đưa các giống lúa có năng suất cao vào gieo trồng như ĐH60, VD3... Huyện chỉ đạo 10 xã làm mô hình về sản xuất giống lúa cấp I phục vụ cho chương trình cấp I hoá giống lúa của huyện. Lúa xuân muộn được đưa vào sản xuất thực nghiệm tại xã Thượng Trưng. Diện tích các loại cây ngô, khoai lang, rau xanh, đậu, mía, đỗ tương đều tăng, trong đó ngô và đỗ tương đạt cao nhất. Cây trồng tăng về diện tích, đa dạng về chủng loại, đưa hệ số sử dụng đất lên 2,84 lần. Năm 1997, tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 63.728 tấn, năng suất lúa đạt 58,37 tạ/ha; ngô đạt 29,55 tạ/ha; đỗ tương đạt 11,44 tạ/ha; bình quân lương thực dầu người đạt 351kg/người/năm.

Huyện chỉ đạo công tác chuyển ghép ruộng đất từ năm 1997 đã đạt được những kết quả đáng kể: tổng diện tích đất đã chuyển ghép là 2.469 ha chiếm 29% diện tích gieo cấy hàng năm, trong đó chia lại là 2.175 ha. Việc thực hiện ghép ruộng đất còn chậm do khó khăn về kinh phí, nhận thức của nhân dân, địa hình đất đai và một phần cũng là do các cấp chính quyền cơ sở lãnh đạo chưa sâu sát, ngại khó, công tác vận động tuyên truyền chưa sâu rộng. Năm 1998 thời tiết diễn biến không thuận lợi, song với quyết tâm cao trong sản xuất nông nghiệp, huyện đã thực hiện vượt kế hoạch đề ra.

Huyện chỉ đạo triển khai chương trình chuyển trà lúa chiêm xuân, giảm diện tích lúa chiêm chính vụ, tăng diện tích lúa xuân muộn. Các điểm mô hình ở Thượng Trưng, Chấn Hưng, Yên Bình, Thổ Tang, Lý Nhân..., năng suất lúa bình quân đạt 50,5 tạ/ha, cao hơn so với đối chứng 8-10 tạ/ha, tạo ra sức thuyết phục để mở rộng diện tích lúa xuân muộn trong các năm tiếp theo. Chương trình chuyển trà vụ mùa được thực hiện, giảm trà cực sớm, mở rộng trà lúc sớm để vừa thâm canh cây lúa, vừa tạo thời vụ thích hợp cây trồng vụ đông. Kết quả ở Yên Bình, Chấn Hưng diện tích lúa ĐH60 cho năng suất 48,56 tạ/ha, tăng so với đối chứng giống CN2 là l0,6 tạ/ha, thời gian thu hoạch sớm; kịp thời cho sản xuất vụ đông, được nhân rộng trong huyện. Đồng thời, huyện chú trọng triển khai chương trình cấp I giống lúa, tiếp tục chỉ đạo ở 17 hợp tác xã của 10 xã, góp phần cung ứng giống cho toàn huyện. Năm 1998, toàn huyện đã cấp I hoá giống lúa đạt 80% diện tích với các giống lúa phù hợp trên từng vùng canh tác, từng vụ; tình trạng gieo

cấy quá nhiều loại lúa giống đã dược khắc phục.

Uỷ ban nhân dân huyện đã chỉ đạo tiếp tục thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu mùa vụ theo hướng mở rộng trà lúa xuân muộn và mùa sớm thay thế cho lúa xuân chính vụ. Công tác tuyên truyền vận động cho chương trình lúa xuân muộn được triển khai tích cực, các điều kiện cần thiết phục vụ cho chương trình đã được triển khai ngay từ tháng 10- 1998. Kết quả vụ chiêm xuân 1998-1999 toàn huyện có 16 - 29 xã, thị trấn tham gia chương trình lúa xuân muộn với tổng diện tích 700 ha. Hợp tác xã Yên Nhiên (Vũ Di) đạt năng suất trên 70 tạ/ha. Chính lúa xuân muộn đã góp phần tích cực nâng năng suất chung của huyện và tạo đà cho các năm sau. Kết quả lớn nhất là thay đổi tập quán sản xuất cũ và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.

Diện tích gieo trồng tăng, cây trồng đa dạng, chủng loại phong phú có năng suất cao, tạo đà cho chăn nuôi phát triển. Năm 1996, huyện tiếp tục cải tạo đàn bò theo hướng "Sind hoá". Chương trình nạc hoá đàn lợn bị hạn chế vì thị trường tiêu thụ hạn hẹp. Do đó, huyện đẩy mạnh chăn nuôi gà công nghiệp, ngan lai, nuôi cá...

Có được những kết quả đáng kể về trồng trọt, chăn nuôi là do huyện làm tốt công tác khuyến nông. Hệ thống khuyến nông từ huyện đến cơ sở được hình thành, l6/29 xã đã lập được tổ khuyến nông. Các tổ khuyến nông bước đầu hoạt đồng tốt, tổ chức trình diễn nhiều tập đoàn giống mới như ngô ĐK888, ĐK999, khoai tây, lúa X20, X21..ngan siêu trứng, siêu thịt, vịt Bắc Kinh…

Sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp còn nhiều khó khăn, chưa có mặt hàng có giá trị kinh tế cao, nhiều doanh nghiệp thiếu việc làm. Dây chuyền sản xuất cám tổng hợp hoạt động kém hiệu quả. Sản phẩm làm ra chưa dược thị trường chấp nhận. Để khắc phục, huyện chủ trương tiếp tục đổi mới kỹ thuật, đầu tư thích đáng cho các xí nghiệp nhỏ, khuyến khích phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Phát triển mạnh các nghề truyền thống như mộc, rèn, vật liệu xây dựng; tăng cường liên doanh liên kết với bên ngoài để tạo nguồn vốn cho phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm, sửa chữa cơ khí và máy móc thiết bị.

Nhờ có những chủ trương đúng đắn, sát hợp với thực tế địa phương, nên sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp được đầu tư mở rộng, dưa giá trị tổng sản lượng tăng dần từ 16.500 triệu đồng (năm 1998) lên 17.082 triệu đồng (năm 1999). Một số ngành nghề như chế biến, xay xát, sản xuất đồ kim khí, chế biến thực phẩm có chiều hướng phát triển. Làng nghề xây dựng ở Ngũ Kiên có bước tiến mới. Hàng năm các tốp thợ xây dựng công trình ở nhiều nơi có doanh thu bốn đến năm tỷ đồng.

Tuy vậy, một số ngành sản xuất, nhất là sản xuất vật liệu xây dựng lại chùng lại. Việc sản xuất gạch ngói chưa được quy hoạch thành vùng đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp. Một số ngành nghề mới như nuôi trồng thủy sản, chế biến thực phẩm, sản xuất đồ kim khí... do sản xuất thủ công lạc hậu, nghèo nàn về mẫu mã, nên chưa cạnh tranh được trên thị trường. Các làng nghề truyền thống như mộc Bích Chu, rèn Lý Nhân, nuôi rắn ở Vĩnh Sơn còn gặp khó khăn về vốn và tiêu thụ sản phẩm.

Việc phát triển giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng, bưu điện, tài chính tiền tệ dược huyện chú trọng và đầu tư thích đáng.

Về giao thông vận tải phát huy thành tích đã đạt được trong năm 1995, huyện đã tranh thủ sự giúp đỡ của các ngành, các cấp để xây dựng kế hoạch phát triển giao thông nông thôn đến năm 2000. Vì vậy, huyện đã huy động được sức dân với 69.000 ngày công và 6.443 triệu đồng, rải được 110 km đường cấp phối, xây 25 ngàn mét rãnh thoát nước, rải nhựa 3,5 km đường.

Về xây dựng cơ sở hạ tầng, toàn huyện đã đầu tư 9,6 tỷ đồng để xây dựng các công trình trọng điểm như: Bưu điện, Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, Công an huyện, Trường phổ thông trung học Lê Xoay và các trường tiểu học, trạm xá.

Đến năm 1999, huyện thực hiện tổng giá trị xây lắp đặt 31,6 tỷ đồng. Công tác xây dựng cơ bản tuy đạt yêu cầu đề ra, nhưng chất lượng một số công trình chưa đảm bảo, thủ tục đầu tư xây dựng có thiếu sót. Mạng lưới thông tin liên lạc ngày càng được mở rộng, trang thiết bị từng bước được nâng cấp hiện đại. Toàn huyện đã phát hành được 384.016 tờ báo các loại đạt 108% kế hoạch, có 1.728 máy điện thoại, bình quân 100 người dân có một máy. Hoạt động thông tin liên lạc được đảm bảo, nhưng chất lượng phục vụ chưa cao.

Về tài chính - tiền tệ có bước phát triển, đổi mới về cơ chế quản lý. Ngành tài chính tập trung khai thác nguồn thu, đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên và có tích luỹ để đầu tư phát triển. Bằng việc tích cực đổi mới phương pháp, cách thức trong thu chi.


Giai đoạn (2001 - 2005):

Nền kinh tế của huyện phát triển ổn định và đạt mức tăng trưởng khá. Hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt so với kế hoạch đề ra. Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn bình quân 5 năm đạt 884,7 tỷ đồng, nhịp độ tăng trưởng hàng năm là 9,5% (Nông nghiệp tăng 7,7%, công nghiệp - TTCN tăng 14,95%, Thương mại - dịch vụ tăng 11,3%). Thu nhập bình quân theo đầu người đạt 4,95 triệu đồng/người/năm.

Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: Giảm tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị công nghiệp - TTCN - xây dựng và thương mại - dịch vụ. Tuy nhiên, giá trị sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp của Vĩnh Tường cho đến thời điểm này còn khá khiêm tốn, chiếm tỷ trọng còn rất nhỏ trong nền kinh tế (Chỉ khoảng 5%).

Về sản xuất nông nghiệp: Năm năm qua là thời kỳ nông nghiệp Vĩnh Tường phát triển với tỷ lệ tăng trưởng cao. Sản lượng các loại cây trồng đều tăng và đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Lấy số liệu năm 2004 thì tổng sản lượng cây có hạt đã đạt 91.616 tấn (tăng xấp xỉ 9000 tấn so với năm 2000); Giá trị sản xuất tính trên một hecta đất canh tác đã đạt 41,07 triệu đồng, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng tới hơn 40% trong tổng giá trị nền kinh tế của huyện.

Bên cạnh đó, chăn nuôi cũng phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa và đạt hiệu quả khá; Tổng giá trị chăn nuôi năm 2004 đã đạt 207,9 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 34,7% trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp và chiếm tỷ trọng hơn 22% trong cơ cấu chung. Trong chăn nuôi, chất lượng giống đã được chú trọng nâng cao theo hướng: nạc hóa đàn lợn, sind hóa đàn bò, phát triển các con giống giá trị kinh tế cao…

Trong nông nghiệp, công tác thủy lợi được coi trọng, 90% diện tích canh tác đã được đáp ứng việc tưới nước. Dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp đã được đáp ứng. . .

Sản xuất công nghiệp – xây dựng và tiểu thủ công nghiệp đã có bước phát triển mới. Tổng giá trị công nghiệp bình quân đạt 46,125 tỷ đồng/năm. Việc quy hoạch các cụm kinh tế - xã hội, cụm công nghiệp Chấn Hưng, cụm kinh tế - xã hội Tân Tiến – Thổ Tang đang được triển khai tích cực, bước đầu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, tạo tiền đề cho sự phát triển Công nghiệp và TTCN trong thời gian tiếp theo.

Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn đạt kết quả khá với các công trình trực tiếp phục vụ quốc kế dân sinh như: Trường học, hệ thống điện, trạm bơm, trạm y tế, đường giao thông nông thôn…

Trong giai đoạn (2001 - 2005), toàn huyện đã đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng với tổng giá trị là 224 tỷ đồng (theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm). Trong đó 76 tỷ đồng được đầu tư cho xây dựng giao thông (đã cứng hóa 21km đường liên xã, 170km đường thôn xóm).

Về hoạt động thương mại - dịch vụ của huyện, bình quân 5 năm qua đã đạt 218,7 tỷ đồng/năm (chiếm 23,6% trong cơ cấu kinh tế). Đây là lĩnh vực phát triển khá mạnh, đặc biệt là ở các thị tứ, thị trấn và một số trung tâm các xã. Hoạt động này đã đáp ứng nhu cầu giao lưu mua bán và tiêu thụ nông sản thực phẩm cũng như hàng hóa khác của nhân dân trong huyện, góp phần nâng cao đời sống.

Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới cả về quy mô và chất lượng. Tính đến năm 2004, số phòng học được kiên cố hóa đã đạt tỷ lệ 67,5%. Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ dạy và học từng bước được nâng cao. Đội ngũ giáo viên được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Công tác xã hội hóa giáo dục và khuyến học được đẩy mạnh. Đặc biệt, phong trào xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia của huyện đã đạt kết quả khá với tổng số 25 trường đã được công nhận đạt chuẩn.

Công tác y tế của huyện phát triển mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phòng và chữa bệnh của nhân dân. Tỷ lệ các trạm y tế cơ sở có bác sĩ đã đạt 68,97%. Phong trào xây dựng y tế đạt chuẩn quốc gia được đẩy mạnh, tính đến năm 2004, toàn huyện đã có 11 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.

Phong trào “Bảo vệ an ninh Tổ quốc”, xây dựng thế trận an ninh nhân dân, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng luôn được chú trọng.. Huyện đã tổ chức tuyển quân, năm nào cũng bảo đảm 100% sĩ số được giao. Công tác quân sự địa phương được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả, củng cố vững chắc thế trận phòng thủ trên địa bàn.


Trong 5 năm (2006- 2010), nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 23,7% vượt mục tiêu đại hội 3,7%. Trong đó giá trị công nghiệp- xây dựng tăng 43,3% vượt mục tiêu đại hội 5,3%, giá trị dịch vụ - thương mại tăng 32,7% đạt mục tiêu đề ra, giá trị nông nghiệp - thuỷ sản tăng bình quân 1,4% thấp hơn 4,1% so với mục tiêu đại hội.

Cơ cấu giá trị sản xuất tính từ năm 2005 đến năm 2010:

+ Công nghiệp- xây dựng tăng từ 19% lên 33%.

+ Dịch vụ tăng từ 20,7% lên 35.8%.

+ Nông nghiệp - thuỷ sản giảm dần từ 60,3% xuống 31,2%.

Thu nhập bình quân đầu người tăng, từ 5,2 triệu đồng năm 2005 lên 15.6 triệu đồng năm 2010 vượt 5,6% triệu đồng/người/năm so với mục tiêu đại hội.

Tỷ lệ hộ nghèo còn 5,4% (mục tiêu đại hội là 6%).

Huyện ủy đã ban hành nghị quyết về chuyên dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010. Trên cơ sở nghị quyết Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện đã xây dựng đề án về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010: Đồng ruộng được qui hoạch lại; nhiều tiến bộ khoa học công nghệ được ứng dụng trong sản xuất; bước đầu hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá như: vùng lúa chất lượng cao, vùng bí đỏ lai F1, vùng chăn nuôi bỏ sữa các vùng phát triển chăn nuôi thuỷ sản theo quy mô trang trại.

Cơ cấu nội ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỉ trọng chăn nuôi thuỷ sản, giảm tỉ trọng trồng trọt. Năm 2010, tỉ trọng chăn nuôi đạt 51,4%, tăng 1,4% so với mục tài đại hội. Sản lượng lương thực có hạt và giá trị sản xuất bình quân 1 ha canh tác tiếp tục tăng cao.

Trong 5 năm (2006- 2010) sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng có bước phát triển khá, giá trị sản xuất hàng năm tăng hơn 3.5 lần so với nhiệm kỳ trước. Toàn huyện đã quy hoạch 521 ha đất dành cho phát triển khu cụm công nghiệp, cụm kinh tế xã hội, đã thu hút dược 52 dự án đầu tự đồng thời phát triển làng nghề truyền thống, nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm. Các công trình xây dựng, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được chú trọng đầu tư như: khu văn hoá thể thao huyện, mở rộng Bệnh viện đa khoa huyện, đường nối thị trấn Vĩnh Tường, Thị trấn Thổ Tang… phong trào làm giao thông nông thôn tiếp tục được phát triển rộng khắp, thu nhiều kết quả. Tính đến hết năm 2010 giá trị đã thực hiện bằng 281% so với mục tiêu đề án phát triển giao thông nông thôn giai đoạn 2007 - 2010, các tuyến đường trục huyện, xã, thôn và đường ngõ xóm cơ bản được trải nhựa và bê tông hoá.

Huyện Vĩnh Tường luôn chú trọng đầu tư phát triển dịch vụ nhằm phát huy thế mạnh của nhiều xã, thị trấn trong huyện, số lượng quy mô và chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp phát triển nhanh, giá từ bình quân 5 năm 2006 - 2010 tăng 2.55 lần so với đầu nhiệm kỳ. Hoạt động dịch vụ phát triền đa dạng cả về số lượng và chủng loại, đẩy nhanh tiến độ quy hoạch các bến xe, chợ thị trấn Vĩnh Tường, chợ đầu mối Thị trấn Thổ Tang.

Sự nghiệp giáo dục của huyện 5 năm qua có bước phát triển mới cả về quy mô và chất lượng, nhiều hoạt động giáo dục của huyện luôn dẫn đầu toàn tỉnh , đặc biệt chất lượng học sinh giỏi các môn văn hoá, thể thực thể thao cấp tiểu học và THCS luôn được xếp nhất, nhì toàn tỉnh tỷ lệ học sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng luôn đạt cao, 100% các xã, thị trên đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, cơ sở vật chất trang thiết bị giáo dục trong trường học được tăng cường, số phòng học được kiên cố từ 67,6% năm 2005 lên 97% năm 2010, công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh, phong trào xây dựng trường chuẩn quốc gia. Tính đến hết năm 20l0 toàn huyện có 69/101 trường dạt chuẩn quốc gia đạt 68,32%. Trong đó trường mầm non năm 2005 có 06 trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2010 tăng lên 20 trường. Trường Tiểu học năm 2005 có 22 trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 20l0 tăng lên 30 trường trong đó có 02 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2. Trường THCS năm 2005 có 03 trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 201l tăng lên 16 trường. Trường THPT năm 2010 có 316 trường đạt chuẩn quốc gia.

Công tác y tế được thực hiện tốt đội ngũ cán bộ y tế từ huyện đến xã thị trấn được bổ sung về số lượng, nâng cao chất lượng chuyên môn đáp ứng cơ bản nhu cầu khám chữa bệnh cho nhãn dân. Đến nay có 30 bác sỹ làm việc lại 1 trung tâm y tế xã, thị trấn, tăng so với năm 2005 là 11 bác sỹ, cơ sở vật chất trang thiết bị đầu tư cho y tế được thực hiện, đến hết năm 2007 100% xã,thị trấn trong huyện đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình và công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em luôn được quan tâm chú trọng nên tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 20,5% năm 2005 xuống còn 17.5% năm 2010.

Thực hiện mục tiêu về xoá đói giảm nghèo giải quyết việc làm tại chỗ và việc làm mới cho 2.500 lao động (đạt mục tiêu đại hội đề ra) trong 5 năm (2006- 2010) đã hỗ trợ sửa chữa và xây mới 296 nhà tình nghĩa xây được 1.324 nhà đại đoàn kết, vượt 691 nhà so với kế hoạch. Giảm tỷ lệ hộ nghèo và vượt mục tiêu đạt hội đề ra 0,6%.

Trong 5 năm (2006 - 2010) cấp uỷ đảng các cấp từ huyện đến cơ sở đã lãnh đạo, triển khai thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về an ninh quốc phòng, nâng cao cảnh giác cách mạng cho chi bộ, đảng viên và nhân dân, lãnh đạo chính quyền thực hiện nghiêm túc các chỉ thị của Bộ quốc phòng, Quân khu 11 về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, thường xuyên chăm lo đến công tác quân sự địa phương, xây dựng phương án diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập chiến đấu tác chiến trị an, phòng chống lụt bão đều được xếp loại xuất sắc. Hàng năm đều hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân theo kế hoạch, tăng cường quản lý và thực hiện tốt huấn luyện quân dự bị động lên, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, thực hiện tốt các chính sách hậu phương quân đội, nhiều địa phương đạt đơn vi quyết thắng.

Bộ máy chính quyền cơ sở đã phát huy hiệu quả quản lý, điều hành theo pháp luật, năng động hơn, cụ thể hóa các Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương. Phong cách, tinh thần trách nhiệm lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ chủ chốt đã sát dân hơn. Nhiều xã, thị trấn đã xây dựng được chương trình công tác tháng qúy, năm, có quy định cụ thể nơi tiếp dân, thời gian tiếp dân. Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính theo cơ chế "một cửa". Hoàn thành giai đoạn 1, giai đoạn II đề án "đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007- 2010” gọi tắt là đề án 30. Uỷ ban nhân dân huyện và Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn đã chú trọng đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, kiện toàn và từng bước chuẩn hoá đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở theo quy định của Nhà nước, bố trí sử dụng cán bộ công chức đúng tiêu chuẩn, chức danh hợp với ngành nghề dào tạo, thực hiện nghiêm chỉnh quy trình bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý có thời hạn.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã có nhiều chuyển biến cả về nội dung và phương thức hoạt động, coi trọng việc thực hiện quy chế dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý Nhà nước quản lý xã hội đạt hiệu quả, đảm bảo quyền lợi của nhân dân. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp ngày càng thiết thực hiệu quả, tích cực phối hợp các ngành triển khai, thực hiện có hiệu quả nhiều phong trào như " xây dựng nhà đại đoàn kết" xây dựng quỹ "ngày vì người nghèo", "đền ơn đáp nghĩa" phong trào “xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư", tích cực vận động ủng hộ đồng bào bị thiên tai.


(Theo BanTuyên giáo huyện ủy Vĩnh Tường và Vĩnh Tường trên hành trình đổi mới và phát triển-NXB Văn hóa Sài gòn năm 2005)

Thêm một tài liệu vào blog hoặc website của bạn

liên quan:

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN iconLịch sử hình thành và phát triển

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN iconHuyện Yên Lạc Lịch sử hình thành và phát triển

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN iconHUYỆN TAM DƯƠNG Lịch sử hình thành, phát triển

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN iconHUYỆN BÌNH XUYÊN Lịch sử hình thành và phát triển

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN iconTrong lịch sử hình thành và phát triển của của nền văn hóa Việt Nam đa dân tộc, văn hóa của người Chăm chiếm một vị trí đáng chú ý. Văn hóa Chăm nó không chỉ

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN iconPHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH SINH THÁI TẠI KHU DU LỊCH BA VÌ – HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010-2020

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN iconCHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA UBND THÀNH PHỐ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 03/NQ-TU CỦA THÀNH UỶ VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ GIAI ĐOẠN 2006 2010

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN iconLuận văn: Mô hình công ty mẹ công ty con tại Tổng công ty phát triển phát thanh truyền hình thông tin Emico Đài tiếng nói Việt Nam

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN iconVAI TRÒ CỦA THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂY NGUYÊN

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN iconTrao đổi về sự liên kết phát triển loại hình du lịch biển – đảo ở Đồng bằng sông Cửu Long

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương