CHƯƠNG 1 NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC




tải về 332.61 Kb.
TênCHƯƠNG 1 NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC
trang3/5
Chuyển đổi dữ liệu05.09.2012
Kích332.61 Kb.
loạiTài liệu
1   2   3   4   5

CHƯƠNG 4

CÁC NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC THỂ CHẤT


Muốn điều khiển quá trình giáo dục thể chất đạt hiệu quả cao thì hoạt động dạy và học phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Trong quá trình tiến hành giáo dục thể chất, người ta vận dụng tất cả các nguyên tắc giáo dục chung. Tuy nhiên, khi phản ánh tính đặc trưng của mình, giảng dạy động tác trong quá trình giáo dục thể chất có nội dung, phương tiện và cách thức thực hiện riêng.

1. NGUYÊN TẮC TỰ GIÁC VÀ TÍCH CỰC


    1. Bản chất và căn cứ

Thực tế đã chứng minh rằng, hiệu quả của quá trình sư phạm nói chung và giáo dục thể chất nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào thái độ tự giác tích cực của người học đối với nhiệm vụ học tập.

Theo quan điểm sư phạm, giáo dục thể chất là một hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác. Là một họat động được điều khiển bởi mục đích tự giác nên hoạt động giáo dục thể chất chỉ có thể thực hiện được khi con người có khả năng điều khiển hành động của bản thân bởi mục đích đã được ý thức.

  • Quá trình học tập để hình thành, hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo vận động là một quá trình nhận thức.

  • Quá trình tập luyện để nâng cao khả năng chức phận, phát triển các tố chất thể lực là quá trình khổ luyện, khắc phục mệt mỏi, khắc phục khó khăn.

  • Xét từ góc độ tâm – sinh lý,

    1. Nội dung của nguyên tắc thể hiện ở môït số yêu cầu cơ bản sau:

      1. Giáo dục thái độ tự giác và hứng thú đối với mục đích tập luyện chung và nhiệm vụ tập luyện cụ thể của từng buổi tập.

Giáo dục động cơ tập luyện cho người tập: Từ những động cơ ngẫu nhiên, không sâu sắc, cảm tính đến những động cơ sâu sắc, có ý nghĩa xã hội.

+ Động cơ trực tiếp

+ Đông cơ gián tiếp

Phải làm cho người tập nhận thức được nhiệm vụ, mục đích các buổi tập, hiểu được ý nghĩa cụ thể của các nhiệm vụ cần thực hiện, hiểu được tính tất yếu, cơ sở khoa học của nhiệm vụ.

Tạo hứng thú cho người tập bằng nhiều cách thức.

Kết nối những nhiệm vụ, yêu cầu hoạt động với thoả mãn nhu cầu của cá nhân trong hoạt động.

1.2.2 Kích thích tư duy trong quá trình dạy học và huấn luyện.

  • Tự phân tích, cảm nhận, tự đánh giá sau mỗi lần thực hiện động tác

  • Tự phát hiện và sữa chữa nhưng sai lệch về kỹ thụât.

  • Sử dụng phương pháp tập luyện bằng tư duy.

1.2.3 Giáo dục tính sáng kiến, tính tự lập và thái độ sáng tạo của người tập trong thực hiện nhiệm vụ vận động

  • Khuyến khích, tạo điều kiện để người tập tự lập giải quyết các nhiệm vụ, tình huống cũng như vận dụng sáng tạo những tri thức, kỹ năng đã tiếp thu được vào trong thực tế GDTC.

  • Tôn trọng đặc điểm cá nhân trong tập luyện và trong việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo nếu những đặc điểm đó không ảnh hưởng đến tập thể, không ảnh hưởng đến nguyên lý của động tác.

  • Đánh giá cao và khuyến khích làm việc tập thể,

  • Quan tâm khuyến khích người tập và tạo cảm hứng cho họ thông qua lời nói và hành động.

  • Kịp thời đánh giá và biểu dương những biểu hiện tích cực của người tập trong quá trình tập luyện.
  1. NGUYÊN TẮC TRỰC QUAN


    1. Bản chất và căn cứ

Trong giáo dục thể chất, trực quan theo nghĩa rộng là trực tiếp thụ cảm, trực tiếp cảm nhận động tác bằng các cơ quan cảm giác khác nhau của cơ thể.

Mọi quá trình nhận thức đều diễn ra theo quy luật từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Nhận thức luôn bắt đầu từ cái cụ thể, từ trực quan sinh động. Từ cụ thể đến trừu tượng, từ biểu tượng đến tư tưởng.

      1. Trực quan là tiền đề cần thiết để tiếp thu động tác

Xây dựng biểu tượng vận động là tiền đề tâm lý quan trọng cho việc hình thành bất kỳ một hành động vận động nào. Không có biểu tượng vận động về động tác thì không thể thực hiện được hành động. Điều kiện để hình thành biểu tượng vận động là các thông tin từ các giác quan.

Để hình dung ra động tác thì trong quá trình dạy học phải sử dụng tổng hợp các phương tiện và phương pháp trực quan. Có hai loại trực quan.

+ Trực quan trực tiếp

+ Trực quan gián tiếp

Trong qúa trình giảng dạy, thực hiện nguyên tắc này chú ý đến vai trò chủ đạo của các cơ quan phân tích. Ở mỗi giai đoạn tập luyện khác nhau, thị giác và cảm giác vận động cơ có vai trò khác nhau. Mức độ sử dụng trực quan còn phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi nữa. Hiểu được vấn đề này, giáo viên sẽ dễ dàng tiến hành nguyên tắc đối đãi cá biệt.

      1. Trực quan là điều kiện để hoàn thiện kỹ thuật động tác

Bản chất tâm lý của quá trình tập luyện nhằm hoàn thiện một kỹ thuật động tácù là một quá trình điều chỉnh.

Nếu trong giai đọan đầu trực quan là tiền đề để tiếp thu động tác thì giai đoạn sau trực quan sẽ hoàn thiện động tác ở mức cao hơn.

- Trong rất nhiều bài tập, đặc biệt là các bài tập thể thao, sự phát triển các giác quan có ý nghĩa quyết định thành tích. Trong trường hợp này trực quan là tác động làm hoàn thiện các cơ quan cảm thụ của cơ thể, xây dựng lên cảm giác chuyên môn .

Điều đó chỉ có được khi vận động viên tập luyện đạt trình độ điêu luyện, và chỉ có điêu luyện mới có khả năng đạt được thành tích cao trong thi đấu. Do vậy, cần đặc biệt chú ý phát triển cảm giác cơ bắp cho người tập, có thể sử dụng các biện pháp như loại trừ thị giác.

2.2 Các yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc.

- Vận dụng linh hoạt các hình thức trực quan

- Chú ý đến tính chủ đạo của các cơ quan phân tích trong từng giai đoạn của quá trình giảng dạy động tác.
  1. NGUYÊN TẮC THÍCH HỢP VÀ CÁ BIỆT HOÁ


    1. Bản chất và căn cứ:

Phải tổ chức quá trình giáo dục thể chất (tập luyện TDTT) sao cho thích hợp (vừa sức) với trình độ, khả năng của người tập.

Ý nghĩa của nguyên tắc này còn thể hiện ở chỗ, nó chỉ đạo quá trình giảng dạy và giáo dục, nhằm làm cho quá trình đó một mặt phù hợp với trình độ chung của đối tượng, đồng thời có chú ý đến đặc điểm riêng của cá nhân.

Mặt khác, nguyên tắc này còn có ý nghĩa thúc đẩy tính tích cực và tự giác tập luyện của học sinh nhằm giải quyết nhiệm vụ vận động một cách hiệu quả nhất.

    1. Vấn đề xác định mức độï thích hợp (vừa sức)

Về mặt lý thuyết, để xác định tính thích hợp cần chú ý đến mấy vấn đề sau:

Phải nhận biết được các đặc điểm của người. Điều này có thể có được thông qua các kiểm tra về y học và sư phạm.

Phải nắm vững nội dung chương trình, các yêu cầu và tiêu chuẩn quy định cho từng đối tượng.

Theo quan điểm sư phạm, tính thích hợp của lượng vận động chỉ có thể được đánh giá đúng đắn trên cơ sở tính toán đến hiệu quả nâng cao sức khỏe của nó.

Các giới hạn của tính thích hợp rất tương đối và luôn thay đổi theo trình độ người tập.

Xác định mức độ thích hợp của nhiệm vụ vận động trong một buổi học thông qua kiểm tra mạch đập, quan sát những biểu hiện ở bên ngoài của người tập …

    1. Những yêu cầu về mặt phương pháp để quán triệt nguyên tắc thích hợp

Đảm bảo tính kế thừa

Đảm bảo tính tuần tự

4. NGUYÊN TẮC HỆ THỐNG

    1. Tính liên tục và sự luân phiên hợp lý giữa tập luyện và nghỉ ngơi

Đảm bảo tính liên tục:

Dưới ảnh hưởng của tập luyện (LVĐ) trong cơ thể diễn ra những biến đổi thích nghi về hình thái và chức năng đồng thời hình thành những đường liên hệ thần kinh tạm thời. Đó là cơ sở của việc nâng cao năng lực vận động. Tuy nhiên, để nâng cao được năng lực vận động cần phải có “hiệu quả tích luỹ” của những biến đổi này.

Trên thực tế giáo dục thể chất, đảm bảo tính liên tục thể hiện ở sự duy trì chế độ tập luyện không dưới 2-3 buổi/tuần.

Luân phiên hợp lý giữa tập luyện và nghỉ ngơi

Liên tục, thường xuyên không có nghĩa là tập luyện không có quãng nghỉ. Ngược lại, quãng nghỉ là một thành phần của lượng vận động như đã xét. Chính sự luân phiên hợp lý giữa tập luyện và nghỉ ngơi là điều kiện để đảm bảo tính liên tục.

Có 3 quãng nghỉ cơ bản thường được áp dụng:

Quãng nghỉ vượt mức : là quãng nghỉ mà buổi tập sau được tiến hành đúng vào giai đoạn hồi phục vượt mức, tức là vào lúc năng lực vận động của cơ thể tăng cao, trên nền của hiệu quả của buổi tập trước.

- Quãng nghỉ đầy đủ: là quãng nghỉ mà buổi tập sau được tiến hành vào giai đoạn hồi phục tương đối.

- Quãng nghỉ ngắn: là quãng nghỉ mà buổi tập sau được tiến hành vào giai đoạn mà dự trữ năng lượng, năng lực hoạt động chưa phục hồi về mức ban đầu.

    1. Tính tuần tự và mối quan hệ hợp lý giữa các mặt của GDTC và HLTT

Có thể tóm tắt một số yêu cầu của tính tuần tự như sau:

Trong quá trình giáo dục thể chất nhiều năm tính tuần tự chung của nội dung tập luyện được quy định bởi quy luật phát triển theo lứa tuổi; bởi lôgíc chuyển từ giáo dưỡng thể chất chung rộng rãi sang luyện tập chuyên môn hoá sâu hơn.

Trong việc giáo dục các tố chất thể lực tính tuần tự thể hiện ở logic: trong giai đoạn phát triển thể chất ban đầu thì thường các bài tập đòi hỏi khả năng vận động và sức nhanh được sử dụng nhiều hơn; sau đó tỷ trọng các bài tập sức mạnh tăng dần và cuối cùng là các bài tập phát triển sưc bềân. Lô gíc đó phù hợp với quy luật phát triển của các tiền đề sinh học thuận lợi cho sự phát triển các tố chất.

Trong từng buổi tập riêng lẻ và trong chu kỳ tuần, các bài tập phát triển tố chất thể lực thường được sắp xếp theo trật tự sau: các bài tập sức nhanh – các bài tập sức mạnh – các bài tập sức bền, hoặc các bài tập sức mạnh – các bài tập sức nhanh – các bài tập sức bền

Vận dụng triệt để quy luật chuyển kỹ xảo

Quán triệt các quy tắc: “Từ biết đến chưa biết”, “Từ dễ đến khó, “Từ đơn giản đến phức tạp”; “Từ đơn lẻ đến tổng hợp”

+ Luân phiên hợp lý giữa vận động và nghỉ ngơi

5 . NGUYÊN TẮC TĂNG DẦN YÊU CẦU

5.1 Bản chất và căn cứ

Nguyên tắc này phản ánh xu hướng chung của các yêu cầu đối với người tập trong quá trình giáo dục thể chất. Đó là xu hướng các nhiệm vụ này càng khó dần cả về mức độ phức tạp cả về lượng vận động.

Thường xuyên đổi mới nhiệm vụ theo hướng tăng dần độ khó và lượng vận động là một tất yếu nếu muốn không ngừng nâng cao trình độ thể chất, nâng cao năng lực vận động.

Nhờ cơ chế thích nghi mà những phản ứng của cơ thể đối với lượng vận động không đổi luôn thay đổi. Tuỳ theo sự thích nghi với lượng vận động cụ thể mà những biến đổi sinh học trong cơ thể do lượng vận động đó gây ra trở nên ít hơn. Để tiếp tục gây ra những biến đổi tốt trong cơ thể – cơ sở của sự phát triển về trình độ thể lực, hình thái thì lượng vận động phải thay đổi theo hướng tăng.

Trong giới hạn sinh lý nhất định, những biến đổi tốt trong cơ thể dứơi tác động của các bài tập thể lực tỷ lệ thuận với khối lượng và cường độ.

Trong giáo dục các phẩm chất ý chí cũng tồn tại quy luật tương tự.

    1. Thực hiện nguyên tắc

        • Các yêu cầu khi phức tạp hoá nhiệm vụ và nâng cao lượng vận động:

Quán triệt nguyên tắc thích hợp

Quán triệt tính hệ thống: đảm bảo tính tuần tự, tính kế thừa, tính thường xuyên và sự luân phiên hợp lý giữa các buổi tập.

- Việc chuyển sang nhiệm vụ mới phức tạp hơn về độ khó và nặng hơn về lượng vận động cần phải tính đến mức độ củng cố của kỹ xảo đã hình thành và sự thích nghi với lượng vận động.

- Thời gian thích nghi phụ thuộc vào độ lớn của lượng vận động, đặc điểm cá nhân, tính chất chuyên môn … Khi các điều kiện khác như nhau thì lượng vận động càng lớn thì thời gian thích nghi càng dài.

        • Các hình thức tăng dần lựơng vận động:

Hình thức tăng theo đường thẳng dốc

Hình thức tăng theo bậc thang

Hình thức tăng theo làn sóng


CHƯƠNG 5
1   2   3   4   5

liên quan:

CHƯƠNG 1 NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC iconCHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP LUẬN

CHƯƠNG 1 NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC iconTiết 1 Bài 1 THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG I- Mục tiêu bài học

CHƯƠNG 1 NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC iconChương Mâu thuẫn, các phương thức giải quyết mâu thuẫn và một số vấn đề về nhận thức phương pháp luận kết hợp các mặt đối lập trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay

CHƯƠNG 1 NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC iconĐề cương bài giảng chuyên đề 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUNG TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CHƯƠNG 1 NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC iconCHƯƠNG 3: HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA TRỌNG NÔNG I. Hoàn cảnh ra đời và phương pháp luận nghiên cứu

CHƯƠNG 1 NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC iconMỘT VÀI THỂ HIỆN CỦA THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG VIỆC XEM XÉT TOÁN HỌC VÀ VẬN DỤNG VÀO NGHIÊN CỨU, GIẢNG DẠY TOÁN HỌC

CHƯƠNG 1 NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC iconTrình bày các phương pháp khoa học của kinh tế chính trị Mác-Lênin, cho những dẫn chứng về sử dụng các phương pháp đó trong các nguyên lý khoa học KTCT của

CHƯƠNG 1 NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC iconTrình bày các phương pháp khoa học của kinh tế chính trị Mác-Lênin, cho những dẫn chứng về sử dụng các phương pháp đó trong các nguyên lý khoa học KTCT của

CHƯƠNG 1 NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC iconTrình bày những phương pháp khoa học của kinh tế chính trị Mác Lênin : tên phương pháp; vai trò của phương pháp đó; Sự vận dụng những phương pháp đó trong

CHƯƠNG 1 NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC iconCHƯƠNG 5: HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LENIN I. Hoàn cảnh ra đời và phương pháp luận nghiên cứu học thuyết kinh tế Mác-Lênin

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương