Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cần thiết của đề tài




tải về 0.63 Mb.
TênChương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cần thiết của đề tài
trang2/11
Chuyển đổi dữ liệu26.04.2013
Kích0.63 Mb.
loạiTài liệu
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Phân loại theo chức năng. Căn cứ của phương pháp này là dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm nguời ta chia công nghiệp thành: Các ngành sản xuất tư liệu sản xuất (nhóm A), và các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng ( nhóm B). Vận dụng phương pháp phân loại này để sắp xếp các cơ sở sản xuất công nghiệp vào hai nhóm tương ứng là công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ:


Ngành công nghiệp nặng là tổng hợp của các đơn vị kinh doanh sản xuất các sản phẩm là tư liệu sản xuất.

Ngành công nghiệp nhẹ là tổng hợp các đơn vị sản xuất kinh doanh các sản phẩm là tư liệu tiêu dùng trong sinh hoạt là chủ yếu.

Phương pháp phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong việc vận dụng các quy luật tái mở rộng để xây dựng các mô hình cơ cấu công nghiệp phù hợp cho mỗi quốc gia, tương ứng từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế.

Phân loại thành 2 nhóm ngành khai thác và chế biến. Công nghiệp khai thác có nhiệm vụ cắt đứt đối tượng lao lao động khỏi môi trường tự nhiên, tạo thành các loại nguyên liệu nguyên thuỷ.

Công nghiệp chế biến làm thay đổi về chất các đối tượng lao động là nguồn nguyên liệu nguyên thủy thành các sản phẩm trung gian và tiếp tục chế biến thành các loại sản phẩm cuối cùng.

Phương pháp phân loại này có ý nghĩa rất lớn đối với việc cân đối trong quá trình sản xuất sản phẩm cuối cùng, cân đối giữa nguồn nguyên liệu và chế biến nguyên liệu, xây dựng mô hình cơ cấu kinh tế, cân đối giữa khai thác tài nguyên và chế biến tài nguyên trong nền kinh tế của mỗi quốc gia.

Phân loại thành các ngành công nghiệp chuyên môn hoá. Phương pháp phân loại này được dựa trên các đặc trưng kỹ thuật được dựa vào những đặc trưng kỹ thuật sản xuất khác nhau hay tương tự nhau để sắp xếp các đơn vị sản xuất kinh doanh thành các ngành công nghiệp chuyên môn hoá.

Ngành công nghiệp chuyên môn hoá là tổng hợp các xí nghiệp sản xuất công nghiệp mà hoạt động sản xuất chủ yếu của chúng có những đặc trưng kỹ thuật sản xuất giống nhau hay tương tự nhau:

  • Cùng thực hiện một phương pháp công nghệ hay công nghệ tương tự.

  • Sản phẩm đựoc sản xuất từ một loại nguyên liệu hay nguyên liệu đồng loại.

  • Sản phẩm có công dụng cụ thể giống nhau hay tương tự nhau

Trong 3 đặc trưng trên đặc trưng về công dụng cụ thể là quan trọng nhất.Phương pháp phân loại này có ý nghĩa trong việc xây dựng các mô hình cơ cấu cân đối liên ngành, đặc biệt đối với các sản phẩm chủ yếu, quan trọng của công nghiệp, trong việc lựa chọn các hình thức tổ chức, mối liên hệ sản xuất giữa các ngành.

Phân loại dựa vào sự khác nhau về quan hệ sở hữu, hình thức tổ chức sản xuất xã hội và trình độ kỹ thuật của sản xuất công nghiệp. Theo phương pháp này, hình thành các loại công nghiệp như: công nghiệp quốc doanh và công nghiệp ngoài quốc doanh, công nghiệp lớn, vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp và đại công nghiệp…

Các phân loại này có ý nghĩa trong việc hoạch định các giải pháp trong xây dựng kinh tế nhiều thành phần, trong việc tổ chức, sản xuất và đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ vào trong công nghiệp.

2.1.2. Vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

Vị trí của công nghiệp trong nền kinh tế. Công nghiệp là một trong những nghành sản xuất vật chất có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân xuất phát từ những lý do sau:

  • Công nghiệp là bộ phận hợp thành cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ. Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế đó.

  • Mục tiêu cuối cùng của nền sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, công nghiệp là ngành khai thác tài nguyên; chế biến các loại nguyên liệu nguyên thuỷ thành các sản phẩm trung gian để thành sản phẩm cuối cùng, nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.

  • Sự phát triển của công nghiệp là một yếu tố có tính quyết định để thực hiện quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên sản xuất lớn, tuỳ theo trình độ phát triển của bản thân công nghiệp mà mà kết quả đạt được của toàn bộ nền kinh tế sẽ khác nhau. Xuất phát từ những điều kiện và đặc điểm cụ thể của mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ cần phải xác định đúng đắn vị trí của ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.

Vai trò chủ đạo của công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế. Trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp luôn giữ vai trò chủ đạo. Công nghiệp có khả năng tạo ra động lực và định hướng phát triển các ngành kinh tế khác lên nền sản xuất lớn. Vai trò của nó được thể hiện ở các mặt sau:

  • Do đặc điểm của sản xuất công nghiệp: công nghiệp có điều kiện tăng nhanh tốc độ phát triển khoa học – công nghệ, ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ đó vào sản xuất. Nhờ đó lực lượng sản xuất trong công nghiệp phát triển nhanh hơn các ngành khác. Do quy luật “quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ và tính chất phát triển lực lượng sản xuất ”, trong công nghiệp có được hình thức quan hệ sản xuất tiên tiến. Tiên tiến về các hình thức quan hệ sản xuất đã làm cho công nghiệp có khả năng định hướng các ngành kinh tế khác tổ chức sản xuất đi lên nền sản xuất lớn theo “hình mẫu” theo kiểu của công nghiệp.

  • Năng suất lao động cao trong công nghiệp là chìa khoá dẫn đến sự gia tăng thu nhập của người lao dộng

  • Trang bị cơ sở vật chất cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân: cung cấp tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, công cụ lao động) và đối tượng lao động (nguyên vật liệu). Do đó công nghiệp có ý nghĩa thiết yếu đối với tăng trưởng sản phẩm của khu vực sản xuất lẫn dịch vụ.

  • Cung cấp đại bộ phận sản xuất tiêu dùng của xã hội.

  • Tạo ra nhiều công ăn việc làm.

  • Giảm bớt sự phụ thuộc vào nước ngoài thông qua hàng hoá thay thế nhập khẩu.

  • Ngoài ra công nghiệp còn có vai trò cũng cố quốc phòng.

2.2. Một số vấn đề chung về phát triển kinh tế

Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là những vấn đề có tính thời sự đối với các quốc gia, nó có liên quan đến sự thịnh vượng hoặc suy thoái, sự tồn vong hay tan rã của thể chế mà quốc gia đang theo đuổi. Từ hàng thế kỷ nay, nhiều nhà kinh tế học đã đề cập đến vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế trong các học thuyết kinh tế cuả mình với mong muốn tìm ra những quy luật, nguồn gốc, động lực và chiều hướng vận động của chúng. Đối với các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện nay, vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế được đặc biệt quan tâm nghiên cứu, nhằm chớp thời cơ đẩy lùi nguy cơ, giải quyết những khó khăn thách thức về kinh tế đang đặt ra cho các quốc gia này. Việc nghiên cứu này nhằm mục đích cuối cùng là tìm ra chiến lược phát triển kinh tế phù hợp.

2.2.1 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được hiểu là gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Ở đây sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia được hiểu bằng hai hình thức:

  • Hình thức thứ nhất là sự tăng lên của tổng sản lượng quốc nội (GDP) hay tổng sản lượng quốc dân(GNP). Hình thức này thể hiện sự lớn lên về quy mô và tốc độ tăng trưởng sản lượng quốc gia của một nuớc.

  • Hình thức thứ hai là sự tăng lên theo đầu người của tổng sản phẩm quốc nội (GDP/người) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP/người). Hình thức này thể hiện mức sống dân cư ở một nước.



2.2.2. Phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế là sự gia tăng về mọi mặt của nền kinh tế trong khoảng thời gian nhất định (thuờng là một năm), bao gồm cả sự tăng trưởng toàn bộ trong cơ cấu xã hội.

Như vậy giữa tăng trưởng và phát triển có sự khác nhau. Tăng trưởng chỉ sự gia tăng về số lượng còn phát triển bao gồm những nội dung rộng hơn:

  • Thứ nhất, là mức độ gia tăng mở rộng sản lượng quốc gia và sự tăng trưởng mức sống, mức sản xuất quốc gia trong một thời gian nhất định.

  • Thứ hai là mức độ biến đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia. Trong đó tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng sản lượng quốc gia đóng vai trò quan trọng nhất.

  • Thứ 3 là sự tiến bộ của cơ cấu xã hội, đời sống xã hội, mức độ gia tăng thu nhập thực tế người dân, mức độ công bằng xã hội của quốc gia.

  • Thứ 4 là sự thay đổi về cơ cấu kỹ thuật, trình độ sản xuất và trình độ công nghệ tiên tiến. Khi đạt được sự phát triển kinh tế có nghĩa là có sự thay đổi trong công nghệ với sự gia tăng các công nghệ tiên tiến hơn…

2.2.3. Phát triển bền vững

Là sự phát triển thoả mãn nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng làm thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai. Tiếp cận phát triển bền vững thường có sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 nhóm mục tiêu phát triển:

Hình 1:Sơ đồ mục tiêu phát triển kinh tế





MỤC TIÊU KINH TẾ

(Tăng trưởng ổn định hiệu quả)





MỤC TIÊU XÃ HỘI

(Công bằng về thu nhập, giảm đói nghèo, bảo vệ văn hoá dân tộc)

MỤC TIÊU MÔI TRƯỜNG

(Sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, đa dạng hoá sinh học)

PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Nguồn: Kinh doanh toàn cầu ngày nay (Charles W.L.Hill)

2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

2.3.1. Nhóm nhân tố kinh tế

Yếu tố vốn. Vốn được xem là một yếu tố quan trọng hàng đầu trong tăng trưởng và phát triển kinh tế. Muốn thúc đẩy phát triển kinh tế phải có vốn. Nhu cầu vốn đầu tư vào trong nền kinh tế rất lớn tập trung vào bốn nhu cầu cơ bản:

  • Đầu tư cho cơ sở hạ tầng.

  • Đầu tư cho giáo dục đào tạo.

  • Đầu tư cho tiến bộ khoa học kỹ thuật.

  • Đầu tư cho sản xuất kinh doanh.

Nguồn vốn thường được huy động từ 2 nguồn chính: là nguồn vốn tích luỹ trong nước và nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài. Để tăng trưởng kinh tế cần phải có các nguồn đầu tư mới, nền kinh tế có khả năng tiết kiệm và đầu tư càng cao thì sự tăng trưởng càng lớn.

Yếu tố lao động. Lao động không chỉ đơn thuần là số lượng mà còn là chất lượng như trình độ, năng lực, kinh nghiệm… Lao động với số lượng và chất lượng được gọi là nguồn nhân lực. Ngày nay khi trình độ công nghệ càng cao thì yếu tố nguồn nhân lực càng đóng vai trò quan trọng.

Yếu tố tài nguyên. Yếu tố tài nguyên môi trường tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng và phát triển. tài nguyên thiên nhiên là nhân tố quan trọng quyết định cơ cấu mức độ chuyên môn hoá và sự phân bổ lại sản xuất của nền kinh tế. Phát triển bền vững bao giờ cũng gắn liền với việc khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trường.

Yếu tố công nghệ kỹ thuật.Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ và kỹ thuật tạo ra năng suất và chất lượng, giảm chi phí và tăng hiệu quả sử dụng vốn, nhân lực, tài nguyên. Chính công nghệ kỹ thuật hiện đại kích thích quá trình tích luỹ nhanh chóng vốn, tăng thu nhập đầu người, kích thích mở rộng quy mô thị trường và dẫn tới sự gia tăng về quy mô sản lượng.


2.3.2. Nhóm nhân tố phi kinh tế

  • Cơ cấu dân tộc.

  • Cơ cấu tôn giáo.

  • Đặc điểm văn hoá xã hội.

  • Các thể chế kinh tế - xã hội.

2.4. Các chiến lược phát triển

2.4.1 Chiến lược và chiến lược phát triển

Chiến lược có ý nghĩa là “ phuơng hướng và cách thức giải quyết nhiệm vụ đặt ra mang tính toàn cục, tổng thể và trong thời gian dài”.

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội là một bộ phận đặc biệt quan trọng của chính sách kinh tế xã hội nhằm xác định mục tiêu cơ bản lâu dài phù hợp với nhiệm vụ trước mắt của sự phát triển và các phương tiện để thực hiện các mục tiêu đó. Chiến lược phát triển quyết định phương hướng lâu dài, dự kiến nhiều năm của nền kinh tế và dự định giải quyết nhiệm vụ kinh tế xã hội trong phạm vi quy mô lớn.

Một chiến lược phát triển bao giờ cũng có 3 đặc trưng lớn:

  • Tạo ra tầm nhìn và định hướng phát triển lâu dài chứ không phải các mục tiêu ngắn hạn

  • Làm cơ sở cho việc quy hoạch và xây dựng kế hoạch phát triển.

  • Mang tính khách quan có căn cứ khoa học chứ không xuất phát từ chủ quan mong muốn của người hoạch định chiến lược.

Chiến lược phát triển là cơ sở cho kế hoạch phát triển, một nhận thức tổng quát về triển vọng, thách thức, những đáp ứng trong một thời kỳ nhất định…Từ đó, có thể tránh được những sai lầm rủi ro, giảm bớt những khó khăn trong con đường phát triển.

2.4.2. Nội dung cơ bản của chiến lược

Một chiến lược thường chứa đựng 4 nội dung cơ bản có mối quan hệ lôgic với nhau đó là: Căn cứ chiến lược, quan điểm chiến lược, hệ mục tiêu chiến lược và hệ giải pháp chiến lược.

Căn cứ chiến lược bao bao gồm:các bài học lịch sử; thực trạng của hệ thống mà chiến lược tác động, đó là xuất phát điểm mà chiến lược cần xác định; dự báo xu hướng môi trường các tác động ngoại sinh; dự báo đánh giá các nguồn lực, các lợi thế so sánh, các đặc trưng.

Hệ quan điểm chiến lược: bao gồm các nguyên tắc, mô hình, những ràng buộc mà chiến lược phải tuân theo, nó là linh hồn của chiến lược.

Hệ thống mục tiêu chiến lược bao gồm những kết quả cần đạt được gắn liền với những vấn đề cơ bản mà hệ thống kinh tế (địa phương, vùng, ngành, hay quốc gia) phải giải quyết tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững cho hệ thống.

Hệ thống phương hướng và giải pháp bao gồm những giải pháp về cơ cấu, cơ chế hoạt động, tổ chức thực hiện và giám sát và điều chỉnh..

2.4.3 Chiến lược phát triển ngành công nghiêp.

Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, công nghiệp hoá là biện pháp cốt lõi để biến một quốc gia nông nghiệp lạc hậu thành một nền kinh tế hiện đại, trong đó công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển.

Có nhiều phương án chiến lược phát triển khác nhau, một số chiến lược cơ bản đó là:

  • Chiến lược phát triển công nghiệp hướng về xuất khẩu.

  • Chiến lược phát triển công nghiệp h ướng thay thế nhập khẩu.

  • Chiến lược phát triển công nghiệp dựa trên lợi thế tài nguyên.

  • Chiến lược phát triển công nghiệp sử dụng nhiều lao động.

  • Chiến lược phát triển công nghiệp sử dụng nhiều vốn.

  • Chiến lược phát triển công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao.

Một chiến lược công nghiệp dù theo phương hướng nào cũng có những nội dung cơ bản sau:

  • Mục tiêu phát triển chiến lược công nghiệp.

  • Các lựa chọn định hướng công nghiệp.

  • Các chính sách cơ bản cho sự phát triển.

Chiến lược phát triển công nghiệp có những đặc điểm nổi bật:

  • Sự phát triển công nghiệp diễn ra trong không gian lãnh thổ mang tính tập trung cao nhằm đảm bảo tính hiệu quả của phát triển công nghiệp.

  • Quá trình phát triển công nghiệp thường kéo theo sự phân bố lại dân cư và sự hình thành mạng lưới đô thị hay thúc đẩy quá trình đô thị hoá.

  • Sự phát triển công nghiệp theo lãnh thổ đòi hỏi sự phát triển tương xứng kết cấu hạ tầng và các hoạt động dịch vụ cho phát triển công nghiệp.

2.5. Phương pháp nghiên cứu.

2.5.1. Phương pháp mô tả.

Phương pháp này được sử dụng nhằm tổng hợp và đánh giá thực trạng hoạt động và đưa ra các hướng giải quyết các vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu thông qua các dữ liệu thứ cấp thu được.

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu lịch sử

Sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử trong đề tài này nhằm thu thập và đánh giá các số liệu trong quá khứ, tìm ra những nguyên nhân và các yếu tố tác động đến đối tượng nghiên cứu. Qua đó làm cơ sở đưa ra những định hướng giải quyết và dự báo về xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu.

2.5.3 Thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp được thu thập từ các sở ban ngành có liên quan như Sở Kế Hoạch Đầu Tư, Ban Quản Lý Các Khu Công Nghiệp Bình Định, Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Bình Định…và các kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác. Ngoài ra, một số ý kiến đóng góp, các dữ liệu định tính được thu thập từ việc phỏng vấn các chuyên gia của cơ quan quản lí nhà nước.

Ngoài ra vận dụng phương pháp ma trận SWOT đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành công nghiệp Bình Định từ đó đưa ra những đề xuất các chiến lược kết hợp.


CHƯƠNG 3

TỔNG QUAN


Tỉnh Bình Định nằm ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, có diện tích tự nhiên 6.025,6 km2 với nhiều đảo, vũng, vịnh và bãi tắm. Bình Định có vị trí địa lý và điều kiện giao thông khá thuận lợi, nằm trên ngã ba của 2 hành lang quốc lộ 1A theo hướng Bắc - Nam và quốc lộ 19 theo hướng Đông Tây, đồng thời là cửa ngõ ra biển đông của Tây Nguyên, Đông - Bắc Campuchia và Hạ Lào. Ngoài đường hàng không với sân bay Phù Cát, tỉnh còn có Cảng Quy Nhơn, một trong những cảng biển lớn và quan trọng của cả nước. Những điều kiện thuận lợi trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Bình Định phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời trở thành một trong những tỉnh có vị trí phòng thủ quốc gia từ phía biển của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

3.1. Điều kiện tự nhiên.

3.1.1. Vị trí địa lý.

Nằm ở toạ độ 13030' đến 14042' vĩ độ bắc và 108036' đến 109022' độ kinh đông, Bình Định tiếp giáp với tỉnh Quảng Ngãi ở phía bắc, tỉnh Phú Yên ở phía nam, tỉnh Gia Lai ở phía tây, biển Đông ở phía đông. Chiều dài tỉnh Bình Định (theo hướng Bắc - Nam) khoảng trên 110 km, chiều ngang (theo hướng đông - tây) hơn 55 km. Tỉnh Bình Định cách Hà Nội 1.065 km về phía bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 649 km về phía Nam.

Địa hình Bình Định đa dạng, gồm các vùng sinh thái: miền núi, đồng bằng ven biển và hải đảo. Mặc dù, vùng đồng bằng chỉ rộng 1.700 km2 (chiếm 17,5% diện tích) lại bị đồi núi, sông suối chia cắt, nhưng đây là vùng đồng bằng rộng của miền Trung (đứng sau Thanh Hoá và Nghệ An). Miền núi Bình Định nằm dọc theo chiều dài của dãy Trường Sơn hùng vĩ, với diện tích đất tự nhiên 374.212 ha, chiếm hơn 62% diện tích đất toàn tỉnh.


Hình 2:Bản Đồ Hành Chính Tỉnh Bình Định



Nguồn:Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Bình Định

3.1.2 Khí hậu – Sông ngòi

Bình Định chịu ảnh hưởng của gió mùa đông và gió mùa hạ. Tuỳ vào từng nơi, phụ thuộc từng điều kiện địa hình, hướng gió hình hành ở mỗi vùng có thể khác nhau.

Khí hậu nhiệt đới ẩm của các huyện miền núi thuận lợi cho phát triển cây trồng, nông nghiệp lúa nước, chăn nuôi. Tuy nhiên, với đặc điểm khí hậu đó, cộng với vùng mưa bão nhiều của miền Trung đã gây khó khăn cho sản xuất và đời sống.

Bình Định có 4 sông lớn là sông Kôn, sông Lại Giang, sông Hà Thanh và sông La Tinh.Ngoài ra, Tỉnh Bình Định còn có hệ thống đầm, hồ…

Sông, suối của Bình Định còn là nguồn thuỷ năng có giá trị. Bình Định đã xây dựng Nhà máy thuỷ điện Định Bình - Vĩnh Sơn ở huyện Vĩnh Thạnh phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.


3.1.3. Tài nguyên và khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản. Bình Định có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng và phong phú, trong đó đáng chú ý nhất là đá granít với trữ lượng khoảng 500 triệu m3, với nhiều mầu sắc đỏ, đen, vàng,... Đây là vật liệu xây dựng cao cấp, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng. Sa khoáng Titan tập trung ở mỏ Đề Gi (Phù Cát), trữ lượng khoảng 1,5 triệu m3. Cát trắng ở Hoài Nhơn, trữ lượng khoảng 900 nghìn m3, cao lanh, đất sét và các điểm quặng vàng ở Hoài Ân, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn.

Tài nguyên thuỷ sản. Bình Định có bờ biển dài 134 km với nhiều cửa biển, cửa lạch lớn như Quy Nhơn, Đề Gi, Tam Quan, Cù Lao Xanh (diện tích 4 km2). Vùng biển Bình Định có khoảng 500 loại cá (tỷ lệ cá nổi chiếm 65%, cá đáy là 35%), trong đó có 38 loại cá kinh tế. Trữ lượng cá ước tính khoảng 50 nghìn tấn. Sản lượng khai thác khoảng 25 - 30 nghìn tấn/năm.

Bảng 1: Sản lượng sản phẩm ngành thuỷ sản

Đơn vị: Tấn




2000

2001

2002

2003

2004

Tổng số

64.642

69.873

70.732

75.989

81.191

Trong đó:


















62.293

67.393

67.968

73.160

78.389

Tôm

2349

2.480

2.764

2.829

2.802

Sản luợng KTTS

75.406

82.037

85.935

92.068

97.853

Sản lượng NTTS

2.419

2.527

2.877

3.028

3.243

Nguồn: Cục thống kê Bình Định

Trữ lượng tôm khoảng 1.000 - 1.500 tấn, khả năng khai thác 300 - 500 tấn/năm. Ngoài ra, biển Bình Định có nhiều đặc sản quý hiếm, giá trị xuất khẩu cao, được ưa chuộng trên thị trường quốc tế như tôm hùm, cua Huỳnh Đế, đặc biệt là yến sào với sản lượng khai thác đạt 650 kg/năm.

Tài nguyên rừng. ngoài các loại cây lấy gỗ, dưới tán rừng còn có song, mây với giá trị kinh tế cao, đặc biệt là cây đót mọc rải rác ở các huyện vùng trung du như Hoài Ân, Hoài Nhơn, một phần ở An Lão, Phù Mỹ, Phù Cát, Tây Sơn, Vân Canh, với khả năng khai thác 200 - 300 tấn/năm phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.

Ngoài ra, Bình Định còn có 4 điểm nước khoáng là Hội Vân, Chánh Thắng (Phù Cát), Vĩnh Thịnh (Vĩnh Thạnh), Long Mỹ (Tuy Phước) có thể cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến nước giải khát của tỉnh và nước.

3.2. Kinh tế - xã hội

3.2.1. Các vấn đề xã hội

Đơn vị hành chính. Bình Định có 11 đơn vị hành chính, gồm 10 huyện và thành phố Quy Nhơn - đô thị loại 2, trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của tỉnh.

Nguồn nhân lực. Đến năm 2005, dân số toàn tỉnh vào khoảng 1,5 triệu người. Số người trong độ tuổi lao động chiếm 53,4%, trong đó khoảng 80% đang làm việc trong các ngành thuộc khu vực nông, lâm, ngư nghiệp.



Nguồn: Số Liệu Thống Kê Tỉnh Bình Định năm 2005

Giáo dục - đào tạo. Sau 16 tái lập tỉnh (1989 - 2005), sự nghiệp giáo dục - đào tạo của tỉnh đã có nhiều tiến bộ. Hệ thống trường, lớp, ngành học, cấp học không ngừng phát triển. Đến năm 2005, toàn tỉnh có 385 trường phổ thông các cấp với 354 nghìn học sinh. Đến năm học 2003 - 2005, tỉnh Bình Định đã đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục tiểu học. Số lượng giáo viên toàn tỉnh là 14 nghìn người.

Ngoài ra, Bình Định còn có trường Đại Học Quy Nhơn, trường Cao Đẳng Sư phạm Bình Định, trường Công nhân Kỹ thuật, trường Trung học Y tế Bình Định, các cơ sở dạy nghề và hệ thống trường phổ thông các cấp khá hoàn chỉnh.

Bảng 2 :Một số mục tiêu giáo dục đến năm 2010

Chỉ tiêu


2005

2010

Tỷ lệ trẻ em dưới 3 tuổi đến nhà trẻ

6

10

Tỷ lệ trẻ em từ 3 tuổi đến 5 tuổi đi học mẫu giáo

50

70

Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi được đi học mẫu giáo lớn

98

99

Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được theo học bậc tiểu học

97

99

Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được theo học bậc trung học cơ sở

90

97

Tỷ lệ thanh, thiếu niên trong độ tuổi được theo học bậc trung học phổ thông

60

80

Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi vào các trường trung học chuyên nghiệp

10

15

Tỷ lệ học sinh sau trung học cơ sở, sau trung học phổ thông vào các trường dạy nghề

8

15

Tỷ lệ lao động được qua đào tạo nghề

30

40

Tỷ lệ giáo viên tiểu học có trình độ cao đẳng

30

60

Tỷ lệ giáo viên tiểu học có trình độ đại học

50

80

Tỷ lệ giáo viên có trình độ thạc sĩ ở trung học và trung học chuyên nghiệp

3,8

10

Nguồn: Sở giáo dục đào tạo Tỉnh Bình Định

Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng:

Đến năm 2005, 100% xã, phường có trạm xá và 74% trạm y tế xã có bác sĩ. Số giường bệnh đạt 2.195 (bình quân 14,27 giường/vạn dân).Số y, bác sĩ là 651 người (bình quân đạt 4,23 bác sĩ/vạn dân). Các bệnh viện tỉnh, khu vực và cơ sở y tế ngày càng được nâng cấp về trang thiết bị. Công tác y tế dự phòng được đẩy mạnh và đạt kết quả tốt, ngăn chặn được các dịch bệnh xảy ra. Hiện tại, toàn tỉnh có 01 bệnh viện tư nhân (Bệnh viện Đa khoa Hoà Bình), 03 phòng khám đa khoa, 88 phòng khám chuyên khoa, 101 phòng khám đông y, 01 phòng khám miễn phí của Hội chữ thập đỏ tỉnh. Hệ thống cơ sở y tế tư nhân đã góp phần đáng kể trong công tác bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, giảm sự quá tải cho các cơ sở khám chữa bệnh của nhà nước.


Kết cấu hạ tầng.

  • Giao thông: Bình Định có hệ thống giao thông khá đồng bộ, với quốc lộ 1A chạy suốt chiều dài của tỉnh, quốc lộ 19 nối liền cảng Quy Nhơn với Tây Nguyên, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Hệ thống đường giao thông nội tỉnh được đầu tư nâng cấp khá hoàn chỉnh và hợp lý, đảm bảo giao lưu thông suốt giữa 3 vùng: miền núi, đồng bằng và ven biển.

Đường sắt Bắc - Nam chạy ngang qua tỉnh dài 149 km. Trong đó, Diêu Trì là một trong 5 ga lớn của tuyến đường sắt xuyên Việt. Mỗi ngày, Bình Định có 7 chuyến tàu đi thành phố Hồ Chí Minh ngang qua ga Diêu Trì và 8 chuyến tàu đi các tỉnh phía bắc.

Sân bay Phù Cát cách thành phố Quy Nhơn 30 km về phía bắc, hàng ngày có chuyến bay đi thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, Bình Định đang chuẩn bị mở đường bay Phù Cát (Bình Định) - Nội Bài (Hà Nội).

Cảng Quy Nhơn là một trong 10 cảng biển lớn nhất Việt Nam. Ưu thế của cảng này là vùng neo đậu kín gió, mực nước sâu, kho bãi rộng, có thể đón các loại tàu trọng tải 30 nghìn tấn ra vào cảng an toàn. Thông qua quốc lộ 19, cảng Quy Nhơn nối liền với các tỉnh Tây Nguyên giàu tiềm năng và một số nước trong khu vực Đông Nam Á.

Bảng 3: Bốc xếp cảng biển




Đơn vị:

2000

2001

2002

2003

2004

Hàng xuất khẩu

1000 tấn

509

441

562

720

941

Hàng nhập khẩu

1000 tấn

528

412

555

647

856

Hàng xuất nhập nội địa

1000 tấn

619

615

635

938

1090

Khối lượng hàng hoá bốc xếp

1000 tấn

2607

2115

2470

3320

3980

Hệ số bốc xếp

%

157

144

141

144

138

Nguồn:Cục Thống kê Tỉnh Bình Định

  • Bưu chính - viễn thông: ngành bưu điện tỉnh có đầy đủ các loại hình dịch vụ có thể đáp ứng nhanh chóng nhu cầu trao đổi thông tin, liên lạc trong và ngoài nước. Đến năm 2004, mạng lưới điện thoại đã được phủ sóng đến 100% xã trên địa bàn tỉnh. Mật độ sử dụng điện thoại đạt 5,5 máy/100 dân. Số thuê bao điện thoại di động trên phạm vi toàn tỉnh vượt 75 nghìn máy.

  • Điện - nước: hệ thống cung cấp điện và điện lưới của tỉnh khá hoàn chỉnh, ánh sáng điện đã đến với 155/155 xã, phường, thị trấn trong phạm vi toàn tỉnh, trong đó 151/155 xã, phường được dùng điện trong hệ thống điện lưới quốc gia, 4 xã còn lại, bao gồm: xã đảo Nhơn Châu (Quy Nhơn), xã An Nghĩa, An Toàn (An Lão), xã Canh Liên (Vân Canh) đang dùng điện diezel độc lập. Tỉnh Bình Định có Nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn, công suất 66 MW, đáp ứng cho nhu cầu sử dụng điện của địa phương. Tỉnh đang triển khai nâng cấp công suất nhà máy nước thành phố Quy Nhơn từ 20 nghìn m3/ngày đêm lên 45 nghìn m3/ngày đêm, đồng thời triển khai thủ tục đầu tư dự án cấp nước cho các thị trấn.

3.2.2.Bức tranh toàn cảnh kinh tế

Đáp ứng yêu cầu về mặt bằng sản xuất, tỉnh Bình Định đã tập trung hoàn thiện kết cấu hạ tầng cho các khu, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong toàn tỉnh. Tuy tổng vốn đầu tư trong 3 năm (2001 - 2003) đạt khoảng 810 tỷ đồng (trong đó đầu tư xây dựng hạ tầng cho Khu công nghiệp Phú Tài và Long Mỹ, các cụm công nghiệp là 100 tỷ đồng; đầu tư phát triển điện 80 tỷ đồng; đầu tư mới, đầu tư mở rộng năng lực sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ 630 tỷ đồng), nhưng đã mang lại cho ngành công nghiệp Bình Định những kết quả khả quan. Nhiều sản phẩm công nghiệp như: gỗ tinh chế, dược phẩm, hải sản đông lạnh, đá granít,... đang dần tạo được thương hiệu và vị thế tại thị trường trong nước và nước ngoài. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 đạt khoảng 2.810 tỷ đồng, tăng khoảng 70%; kim ngạch xuất khẩu từ sản xuất công nghiệp đạt khoảng 171,209 triệu USD. Đến đầu năm 2005, toàn tỉnh có khoảng 16.884 cơ sở sản xuất công nghiệp, tăng 23,5% (trong đó có khoảng 200 doanh nghiệp); thu hút 76.540 lao động, tăng 23% so với năm 2000. Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp chiếm khoảng 24,5% GDP của tỉnh.


Bảng 4:Cơ cấu ngành công nghiệp Tỉnh Bình Định

Đơn vị: %

Thành phần kinh tế

2000

2005

Khu vực công nghiệp TW

12,8

15,1

Khu vực công nghiệp địa phương

86,9

83,2

Khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

0,3

1,7
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

liên quan:

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cần thiết của đề tài iconI. “Kiểm định, hiệu chuẩn các thiết bị ghi đo bức xạ, thiết bị bức xạ, thiết bị hạt nhân” và “Lắp đặt bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị bức xạ, thiết bị hạt nhân”. Đánh giá nhu cầu, hiện trạng của từng loại hình nêu trên

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cần thiết của đề tài iconĐặt vai trò là người thiết kế mạng cục bộ cho một đơn vị (công ty, trường học, cơ quan hành chính, ) có kết nối internet, em hãy trình bày sơ đồ thiết kế mạng và liệt kê các thiết bị cần sử dụng

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cần thiết của đề tài iconChương 4: MỘT SỐ THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ DÂN DỤNG

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cần thiết của đề tài iconChương I: Căn cứ chủ yếu để xác định sự cần thiết phải đầu tư

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cần thiết của đề tài iconCHƯƠNG TRÌNH THIẾT KẾ DIỄN HÌNH RẤT HAY. POWER POINT 2007 LÀ 1 CHƯƠNG TRÌNH TRONG BỘ OFFICE 2007 CÓ 15 CHƯƠNG TRÌNH : 1- Microsoft Office Access 2007

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cần thiết của đề tài iconChương trình đào tạo sử dụng thiết bị mô phỏng Hà Nội, Việt Nam, 18 20/10/2011

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cần thiết của đề tài iconBÁO CÁO KẾT QUẢ HỌC TẬP TẠI KHÓA ĐÀO TẠO VỀ “ THIẾT LẬP HỆ THỐNG QUẢN LÝ TÍCH HỢP VÀ VĂN HÓA AN TOÀN CHO CHƯƠNG TRÌNH ĐHN CỦA VIỆT NAM

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cần thiết của đề tài iconCHƯƠNG TRÌNH B-WTO GIAI ĐOẠN II Viện Khoa học xã hội Việt Nam TÀI LIỆU THIẾT KẾ DỰ ÁN Tháng 05 năm 2011

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cần thiết của đề tài iconTƯ VẤN THIẾT KẾ MỎ Tên đầy đủ: CÔNG TY TNHH TƯ VẤN THIẾT KẾ MỎ MIỀN BẮC

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cần thiết của đề tài iconChương 1 Cơ sở lý luận về Thiết kế hệ thống thông tin quản trị doanh nghiệp

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương