Câu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu




tải về 304.18 Kb.
TênCâu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu
trang1/5
Chuyển đổi dữ liệu30.04.2013
Kích304.18 Kb.
loạiTài liệu
  1   2   3   4   5
Câu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu:

+90 năm sau Cách mạng Tháng Mười, nhân loại đã chứng kiến nhiều biến động dữ dội trong đời sống chính trị của thế giới, trong đó, sự đổ vỡ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là sự kiện lớn nhất, bi thảm nhất. Nó ảnh hưởng không tốt đến phong trào cộng sản quốc tế và sự nghiệp cách mạng của các dân tộc đang đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Tổn thất này đã làm chậm bước tiến của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, song không thể vì thế mà phủ nhận ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười. Tổn thất nặng nề đó dẫu khiến cho cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới rơi vào giai đoạn thoái trào, song không thể vì thế mà chủ nghĩa xã hội bị coi là một “quái thai”, “dị dạng”, một xã hội không có khả năng phát triển; còn cách mạng xã hội chủ nghĩa thì bị coi là cuộc cách mạng “cực đoan”, “bạo loạn”, là cuộc cách mạng diễn ra “không theo đúng quy luật khách quan”, không theo đúng tiến trình phát triển lịch sử – tự nhiên của xã hội loài người.

+Sự thật không thể phủ nhận được là, Liên Xô, con đẻ của Cách mạng Tháng Mười, từ một nước tư bản trung bình, sau một thời gian xây dựng đã trở thành một siêu cường, là lực lượng chủ yếu đã cứu nhân loại thoát khỏi thảm hoạ của chủ nghĩa phát-xít trong chiến tranh thế giới thứ hai, tạo điều kiện cho một loạt nước ở Đông Âu và châu Á, sau đó là Tây bán cầu tiến hành thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã khai phá con đường đi tới chủ nghĩa xã hội, con đường phát huy khả năng sáng tạo to lớn của nhân dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, đưa con người đến “vương quốc tự do”. Nó khẳng định sức mạnh sáng tạo của con người trong sự nghiệp kiến tạo xã hội mới chưa từng có khuôn mẫu trong lịch sử hiện thực của nhân loại. Thực tế tại chính quê hương của Cách mạng Tháng Mười, sau một thời gian xây dựng cho thấy, Liên Xô đã có một nền khoa học hết sức phát triển, trong đó nhiều lĩnh vực đứng hàng đầu thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu vũ trụ. Bốn mươi năm sau Cách mạng Tháng Mười, ngày 4-10-1957, Liên Xô là nước đầu tiên trên thế giới đã phóng thành công vệ tinh nhân tạo của trái đất. Sau đó bốn năm, ngày 12-4-1961, Liên Xô lại là nước đầu tiên đưa con người vào vũ trụ. Phi công vũ trụ I.Ga-ga-rin đã thực hiện thành công chuyến bay quanh trái đất, mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên chinh phục vũ trụ. Trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế,... Liên Xô cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn.

Điều rất đáng tiếc là, sau một thời gian phát triển rực rỡ, sau những chiến công hiển hách trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, cũng như sau những thành tựu lớn lao trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học - công nghệ, cường quốc xã hội chủ nghĩa tại chính quê hương Cách mạng Tháng Mười lại lâm vào trì trệ, khủng hoảng nghiêm trọng và cuối cùng, chế độ xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ nhanh chóng.

Các thế lực thù địch của chủ nghĩa xã hội hí hửng tuyên bố; nào là chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ có nghĩa là “lịch sử đã kết thúc” với sự tồn tại vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản, như nhận định của Fu-ku-y-a-ma; nào là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản rồi đây chỉ “sẽ được nhớ lại như một sự lầm lạc kỳ lạ nhất về chính trị và trí tuệ của thế kỷ XX”, như tuyên bố của Brê-zin-xki... Họ không những tuyên bố mà kỳ vọng như thế. Nhưng thực tiễn hơn một thập kỷ qua, lại không diễn ra như thế lực thù địch của chủ nghĩa xã hội mong đợi. Các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Á và Tây bán cầu không những không sụp đổ, không những trụ vững, mà còn có bước phát triển rất đáng tự hào trong một thế giới đầy biến động phức tạp. Hơn nữa, những năm gần đây, phong trào ở các nước Mỹ La-tinh không thừa nhận con đường phát triển tư bản chủ nghĩa đang thức tỉnh lương tri của nhân loại vì một chế độ xã hội tốt đẹp hơn chế độ tư bản chủ nghĩa. Tất cả những điều ấy chứng rỏ rằng, mặc dù “chủ nghĩa xã hội đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử”

Để làm rõ nhận định trên, chúng ta cần phân tích một cách cụ thể những nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô.

+Nguyên nhân sâu xa liên quan tới mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khuyết tật lớn của mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô là đã tuyệt đối hoá cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp, tuyệt đối hoá nguyên tắc tập thể, coi nhẹ vai trò chủ động và sáng kiến cá nhân, không chấp nhận một cách chủ quan, duy ý chí sản xuất hàng hóa, cơ chế thị trường; thực hiện bao cấp tràn lan, triệt tiêu động lực lợi ích và tính chủ động sáng tạo của người lao động cũng như của các đơn vị kinh tế. Hậu quả của việc thực hiện cơ chế quan liêu, bao cấp đã dẫn nền kinh tế Liên Xô rơi vào tình trạng phát triển chậm dần, sức sản xuất ngày càng tụt hậu, hiệu quả kinh tế ngày càng thấp, đời sống nhân dân ngày càng khó khăn, và cuối cùng, nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng nghiêm trọng. Khuyết tật của mô hình cũ còn được thể hiện cả trong lĩnh vực chính trị: hệ thống chính trị mà vấn đề nổi cộm là không phát huy được tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm nghiêm trọng. Tóm lại, chủ nghĩa giáo điều, xơ cứng trong tư duy lãnh đạo, sự “kiêu ngạo cộng sản”, như V.I. Lê-nin đã cảnh báo, vẫn không được khắc phục. Tất cả những khuyết điểm ấy dẫn tới chậm phát hiện các sai lầm chủ quan, duy ý chí. Do đó, công cuộc cải tổ (pe-rê-xtrôi-ka) đã bị thất bại.

+Nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp là, trong cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô đã phạm sai lầm nghiêm trọng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phản bội chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trước hết ở một số người lãnh đạo cao nhất. Lợi dụng những khó khăn và đường lối sai lầm của Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như của Đảng Cộng ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế đã đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” để xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu một cách nhanh chóng.

Từ sự phân tích nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp ở trên, chúng ta càng thấy rõ, việc sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất nặng nề, song không phải do bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa Mác - Lê-nin sinh ra. Vì vậy, việc coi sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu là sự kết thúc của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hoàn toàn vô căn cứ, hoàn toàn trái với lý luận, thực tiễn hết sức phong phú, sinh động đã và đang diễn ra trong đời sống chính trị của thế giới.

+Về nguyên nhân cũng như các bài học kinh nghiệm lịch sử xung quanh sự kiện này sẽ còn được nghiên cứu một cách sâu sắc trong nhiều cơ hội tới đây, cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế.

+Trong lý luận về chủ nghĩa xã hội, vấn đề xác định mô hình chủ nghĩa xã hội là vấn đề phức tạp, không thể nhận thức một cách đơn giản, tuỳ tiện. Chính V.I. Lê-nin đã khẳng định: “Chúng ta chỉ biết phương hướng của con đường đó (con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội – NDQ) và những lực lượng giai cấp nào dẫn đến con đường đó, còn như về cụ thể và trên thực tế con đường đó ra sao thì kinh nghiệm của hàng triệu con người sẽ chỉ rõ, khi họ bắt tay vào hành động. Chính vì thế, ngay sau Cách mạng Tháng Mười, trước tình hình nền kinh tế lạc hậu của nước Nga bị tàn phá nặng nề do ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918); tiếp đến là do ảnh hưởng của nội chiến và chiến tranh can thiệp của 14 nước đế quốc, V.I.Lê-nin đã đề ra “Chính sách kinh tế cộng sản thời chiến” nhằm khôi phục, phát triển nền kinh tế. Sau một thời gian thực hiện, V.I.Lê-nin nhận thấy chính sách này không còn phù hợp với tình hình mới nên đã đề ra “Chính sách kinh tế mới” (NEP). Nhờ thực hiện chính sách này mà chỉ trong một thời gian ngắn, nền kinh tế nước Nga được khôi phục nhanh chóng và đạt nhiều thành tựu mới. Nhưng sau khi V.I.Lê-nin qua đời, đường lối đúng đắn này không được tiếp tục thực hiện. V.I.Lê-nin đặc biệt quan tâm đến vấn đề năng suất lao động vì nó là yếu tố, xét đến cùng, quyết định thắng lợi hoàn toàn của chế độ mới. Để có thể đạt được năng suất lao động cao, chủ nghĩa xã hội phải tiêu biểu cho những thành tựu mới trong các lĩnh vực mà nhân loại đã đạt được. Như cách nói hiện nay, nội lực phải kết hợp với ngoại lực, sức mạnh của dân tộc phải kết hợp với sức mạnh của thời đại. V.I. Lê-nin cho rằng: “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt của nước ngoài; chính quyền xô viết + trật tự ở đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức các tơ-rớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ, chủ nghĩa xã hội”.

Như vậy, những chỉ dẫn của V.I. Lê-nin rất quan trọng về cả mô hình, bước đi cụ thể để giành thắng lợi cho chủ nghĩa xã hội. Nhưng rất đáng tiếc, tại chính quê hương của ông – quê hương Cách mạng Tháng Mười, những chỉ dẫn đó không những không được quán triệt để thực thi mà còn bị phản bội, thậm chí bị bôi nhọ, lên án. Hơn thế, những kẻ phản bội chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chủ nghĩa xã hội còn cho rằng, thời kỳ Liên Xô là một thời kỳ đen tối của lịch sử...

Thực tế không phải như vậy. Chính thời kỳ Liên Xô là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của lịch sử nước Nga, như ở trên đã phân tích và chứng minh. Những thành tựu của Cách mạng Tháng Mười và của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô là không thể phủ nhận. Cách mạng Tháng Mười khẳng định xu thế phát triển tất yếu của thời đại chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mặc dù con đường phát triển đó vô cùng quanh co, phức tạp. Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, dân tộc Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước – kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Câu 4: Nguyên nhân nghèo đói tại Hoa Kỳ:

Ngày nay, các tổ chức thế giới như WB, LIÊN HIỆP QUỐC cho rằng đói nghèo bao gồm các khía cạnh sau:

-Trước tiên là sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một tiêu chí thích hợp về thu nhập hay tiêu dùng.

-Sự thiếu thốn về giáo dục và y tế.

-Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ găp rủi ro.

-Tình trạnh không có tiếng nói và quyền lực của người nghèo.

Dù nền kinh tế Mỹ đang phát triển và tỉ lệ thất nghiệp giảm, nhưng số người nghèo ở nước này đã gia tăng trong suốt 4 năm qua.

+Trong báo cáo của Cục Điều tra Dân số Mỹ được công bố ngày 30.08.2005, trong năm 2004, có khoảng 37 triệu người dân nước này, tức 12,7% dân số, sống trong nghèo đói. So với năm 2003, số người nghèo đã tăng thêm 1,1 triệu người, tức 0,2%. Vào năm 2001, tỉ lệ nghèo đói là 11,7%; và cách đây 32 năm, tỉ lệ đó là 11.1%.

Đồng thời, số người thụ hưởng chương trình Meudicaid – chương trình y tế-bảo hiểm dành cho người nghèo – đã tăng 5,6% lên đến 37,5 triệu người trong năm 2004, chiếm 13% dân số nước Mỹ. Sự gia tăng này chủ yếu là do các cơ quan đã cắt giảm phúc lợi y tế dành cho người lao động trước sự gia tăng nhanh chóng của chi phí y tế. Cụ thể là tỉ lệ người lao động được hưởng bảo hiểm y tế từ người tuyển dụng đã giảm từ 63,6% trong năm 2000 xuống còn 59.8% trong năm 2004. Tương tự, tỉ lệ người dân hưởng bảo hiểm y tế từ chính phủ cũng đã giảm từ 27,2% xuống còn 24,7%.

+Phát biểu với báo chí, ông Rowland, thuộc tổ chức nghiên cứu xu hướng chăm sóc sức khỏe tại Mỹ, nói: “Medicaid đang quá tải. Nếu người nghèo ngày càng tăng lên thì hệ thống phúc lợi xã hội này sẽ không thể nào chịu đựng nổi”. Ngoài ra, số người Mỹ không có bảo hiểm y tế đã tăng đến con số kỷ lục là 45,8 triệu người, tăng 80.000 người so với năm 2003 và chiếm 16% dân số.

+Điều đáng lo ngại là mặc dù tỉ lệ thất nghiệp đã giảm xuống còn 5%, nhưng tỉ lệ đói nghèo lại tăng ở những người trong độ tuổi lao động, tức từ 18 đến 60 tuổi. Trong khi đó, số người nghèo ở độ tuổi từ 65 trở lên giảm xuống, còn tỉ lệ đói nghèo ở trẻ em về cơ bản là không thay đổi. Về chủng tộc, người dân gốc châu Á tại Mỹ là nhóm dân tộc duy nhất có tỉ lệ nghèo đói giảm: trong năm 2004, tỉ lệ đó là 9,8% so với 11,8% trong năm 2003.

+Theo các chuyên gia Mỹ, có nhiều ngưỡng nghèo đói khác nhau, tùy theo qui mô và thành phần của hộ gia đình. Chẳng hạn, một gia đình có 2 người lớn và 2 trẻ em được xem là nghèo khi thu nhập hàng năm của họ từ 19.157 đô-la trở xuống, còn đối với một hộ chỉ có 2 người lớn thì ngưỡng nghèo đói là 12.649 đô-la. Trong khi đó, đối với một người từ 65 tuổi trở lên và sống một mình, chuẩn nghèo đói là 9.060 đô-la.

+Trong năm 2004, sau khi đã loại trừ ảnh hưởng của lạm phát, thu nhập trước thuế bình quân theo hộ gia đình ở Mỹ chỉ đạt 44.389 đô-la, giảm 93 đô-la so với năm 2003 và là mức thấp nhất kể từ năm 1997 đến nay. Cũng trong năm 2004, lương bình quân hàng năm cho một công nhân nam làm đầy đủ thời gian đã giảm 2% xuống còn 40,800 đô-la; đối với phụ nữ, mức giảm là 1% và lương bình quân là 31.200 đô-la.

+Theo ông June O'Neill, giáo sư kinh tế học thuộc Đại học Baruch, New York, một trong những nguyên nhân quan trọng của tình trạng nghèo đói trong những năm qua là sự giảm sút về lương của đội ngũ lao động làm việc đầy đủ thời gian. Báo cáo nói trên cho biết rằng năm ngoái nhiều hộ gia đình phải làm thêm nhiều giờ hơn so với năm 2003 để duy trì thu nhập. +Theo các nhà phân tích, khi một số người chuyển từ chế độ làm đủ thời gian sang bán thời gian thì họ có thể giữ cho ngân quỹ gia đình không bị thâm hụt ngay cả khi lương trả cho công nhân bán thời gian có giảm xuống.

+Trong khi đó, ông Phillip L. Swagel, một học giả thuộc viện Doanh nghiệp Mỹ, nhận xét: “Dường như những lợi ích từ nền kinh tế đang hồi phục đã không đến với tầng lớp có thu nhập trung bình và thấp. Thu nhập đó đã vào túi của người sở hữu đồng vốn mà hầu như không vào túi của người lao động”.

+Bà Bonnie Ballard, phát ngôn viên của Heartland Alliance, một tổ chức chuyên hỗ trợ người có thu nhập thấp và không nhà ở tại Mỹ, cho rằng sự gia tăng về chi phí nhà ở, xăng, dầu và các mặt hàng thiết yếu khác là một trở lực lớn khiến cho nhiều hộ gia đình khó thoát ra khỏi cảnh đói nghèo. Bà nói: “Người đang nghèo vẫn cứ nghèo. Đồng đô-la không còn đủ mạnh như trước đây”.

+Người nghèo thì nguồn lực bị hạn chế.Thiếu nguồn lực nên người nghèo bị rơinvaof vòng luẩn quẩn của nghèo đói không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực, điều này cản trở họ thoát khỏi đói nghèo.Người nghèo không có khả năng tiếp cận nguồn lực tín dụng do không có tài sản thế chấp.Mặt khác, đa số người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể hoặc sử dụng nguồn vốn vay đúng mục đích.Người nghèo có nguồn thu nhập thấp, bấp bênh, tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi lại các biến cố xảy ra trong cuộc sống.

+Bên cạnh đó, chủ nghĩa cá nhân quá phát triển tại Mỹ cũng là một nguyên nhân quan trọng góp phần tăng tình trạng nghèo đói ở Mỹ.

+Tình trạng nhập cư trái phép tràn lan từ các nước,đặc biệt là các nước châu Phi và châu Á(đa phần những người nhập cư đều không có tài sản,không trình độ học vấn,không nghề nghiệp….). Vì vậy họ có ít cơ hội kiếm được việc làm tốt nên mức thu nhập chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu, không có điều kiện nâng cao trình độ học vấn của mình trong tương lai để thoát nghèo.

+Ngoài ra, người nghèo thương mắc nhiều bệnh tật và có sức khỏe yếu và bất bình đẳng giới.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định cũng là một nguyên nhân gây ra nghèo đói.

+Nghèo đói làm giảm trình độ học vấn, thiếu nhà cửa, giảm phúc lợi xã hội, mất việc làm, thoái triển môi trường và thu nhập thấp. Người nghèo bị giảm các cơ hội, có ít sự lựa chọn và ít hy vọng vào tương lai; những điều này đều đe doạ đến sức khoẻ.

Câu 1: Các loại chủ nghĩa tư bản khác nhau được so sánh theo các cách :

-Chủ nghĩa tư bản xuất hiện những mầm mống đầu tiên vào thế kỷ 14,15, nhưng nở rộ ở thế kỷ 19 và càng phát triển hơn ở thế kỷ 20.Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những điều thần kỳ, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế: với cách mạng công nghiệp ANH,cường quốc kinh tế Hoa Kỳ, sự vươn lên thần kỳ của Nhật Bản…….

-Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, thì việc phân chia lãnh thổ thế giới đã được hoàn thành.Trên cơ sở đó, hệ thống chủ nghĩa tư bản được chia ra làm nhiều loại theo 2 phương pháp.Cụ thể:

Phương pháp 1:chia chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa tư bản cá nhân và chủ nghĩa tư bản công xã.

Chủ nghĩa tư bản cá nhân:Theo LOCKE, từng cá nhân là điểm tựa của xã hội, và có những quyền nhát định, trong đó có quyền nắm giữ tài sản.

Theo ADAM SMITH, từng cá nhân, nếu cho phép họ theo đuổi lợi ích cá nhân, sẽ làm tăng lợi ích cho tất cả mọi người.

Theo THUROW, chủ nghĩa cá nhân tại Mỹ và các nước Anglo-Saxon có các hình thức:

+Sự khác biệt lớn về thu nhập

+Có những doanh nhân xuất sắc

+Và luôn đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong ngắn hạn lên hàng đầu

Chủ nghĩa tư bản công xã:

-Từ công xã có nghĩa là có được sự thõa mãn từ việc là thành viên của một nhóm hay một tổ chức.

-Trong hình thức này thì vai trò của chính phủ được nâng cao và mở rộng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cung cấp phúc lợi.

-Các doanh nghiệp quan tâm đến đời sống của người lao động để tạo lòng trung thành với doanh nghiệp.

-Điển hình cho hình thức này là ĐỨC và NHẬT BẢN.

Phương pháp 2:chia chủ nghĩa tư bản thành CNTB thị trường; CNTB thị trường xã hội và CNTB định hướng nhà nước

Chủ nghĩa tư bản thị trường- điển hình là Hoa Kỳ

-Hoa Kỳ được coi là nền kinh tế thị trường hoàn toàn tự do.

-Chính phủ liên bang có rất ít vai trò so với chính phủ của các nước tư bản khác; thuế và chi tiêu của chính phủ tính theo GDP thấp hơn các nước khác; chính phủ sở hữu rất ít các cơ sở sản xut công nghiệp.

-Chính phủ thiết lập và duy trì sở hữu cá nhân,duy trì tính tự do của các doanh nghiệp; mối quan hệ giữa tiền tệ và tài chính; và hệ thống các luật dân sự để giải quyết tranh chấp giữa các cá nhân.

Chủ nghĩa tư bản thị trường xã hôi-điển hình là các nước ở Châu Âu:

-ĐỨC và các nước TÂY ÂU chú trọng phát triển các chương trình phúc lợi như bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội và thất nghiệp.

-Các tập đoàn có chính sách đối với người lao động để tạo lòng trung thành và sự gắn kết.

-Chính phủ có vai trò kinh tế như sở hữu cổ phần các công ty tư nhân, trợ cấp các ngành công nghiệp, sở hữu một phần các ngành công nghiệp.

-Kế hoạch hóa kinh tế theo chỉ tiêu.

Chủ nghĩa tư bản nhà nước định hướng-NHẬT BẢN và các nước Đông Á:

-Mối quan hệ giữa chính phủ và doanh nghiệp chặt chẽ hơn các nước khác, đặc biệt là trong việc phân phối vốn và chính sách công nghiệp.

-Hình thức CNTB theo nhóm dựa trên sự thống nhất giữa các nhóm.

-Không có phúc lợi nhà nước, doanh nghiệp có nhiệm vụ bảo đảm phúc lợi cho người lao động.

-Kế hoạch kinh tế theo chỉ tiêu nhưng dựa trên sự thống nhất giữa chính phủ và các nhóm khác

-Tạo chính sách công nghiệp:các đại diện ngành công nghiệp làm việc với Bộ Công Nghiệp và Thương Mại quốc tế để thảo luận chiến lược các vấn đề mục tiêu của nền kinh tế và những ngành công nghiệp mũi nhọn cần đầu tư.
  1   2   3   4   5

Thêm một tài liệu vào blog hoặc website của bạn

liên quan:

Câu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu iconTác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào bất động sản và khai thác tài nguyên ở Việt Nam và Lào

Câu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu iconPhân tích quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của cách mạng XHCN ở nứơc ta. Liên hệ với sự nghiệp CNH-HĐH đất nước hiện nay

Câu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu iconC ỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH THÁI NGUYÊN

Câu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu iconT hư của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki Moon gửi Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Minh Triết về kỷ niệm ngày Thống kê Thế giới

Câu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu iconCác đợt đóng băng của thị trường bất động sản Việt Nam, nguyên nhân và giải pháp khắc phục

Câu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu iconBÁO CÁO ĐÁNH GIÁ DỰ BÁO TÁC ĐỘNG CỦA DỰ THẢO LUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC (SỬA ĐỔI) Hà Nội, tháng 9 năm 2011

Câu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu iconLiên thông đào tạo trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ : Luận văn ThS / Phạm Văn Lâm; Nghd. GS. TS. Nguyễn Văn Khánh. H

Câu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu iconVG Bán Nước Nguyễn Minh Triết là nhân vật tiêu biểu tệ hại nhất của Việt Nam 2009

Câu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu iconCỦA LIÊN BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ NGOẠI GIAO SỐ 11/BKH-NG NGÀY 31 THÁNG 12 NĂM 1996 HƯỚNG DẪN THỦ TỤC XÁC NHẬN NGUỒN GỐC VIỆT NAM VÀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ VỀ VIỆT NAM THEO LUẬT KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC

Câu 10: Nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu iconViệt Nam: Quản lý Tài nguyên Nước Đồng bằng sông Mekong đối với Dự án Phát triển Nông thôn

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương