GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ




tải về 210.84 Kb.
TênGIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu29.04.2013
Kích210.84 Kb.
loạiTài liệu
  1   2   3   4


BỘ TƯ PHÁP

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

BỘ Y TẾ

VỤ PHÁP CHẾ



GIỚI THIỆU

LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ



Ngày 18 tháng 6 năm 2012, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (PCTHTL) và ngày 02 tháng 7 năm 2012 Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Luật này. Luật có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2013.

Dựa trên quan điểm tiếp cận của y tế công cộng, mục tiêu chủ yếu của Luật là giảm tác hại của thuốc lá đến sức khỏe, tính mạng con người, tương lai nòi giống dân tộc và nâng cao sức khỏe cộng đồng bằng việc thực hiện thường xuyên, liên tục các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, kiểm soát chặt chẽ và từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá; hạn chế, giảm dần tỷ lệ người sử dụng thuốc lá, đặc biệt là giảm tỷ lệ mắc và chết do các bệnh không lây nhiễm có nguyên nhân từ thuốc lá. Điều đó cũng phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là chú trọng công tác y học dự phòng tích cực, chủ động kiểm soát và ngăn ngừa các tác nhân gây bệnh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT:

1. Thực tiễn của công tác phòng chống tác hại của thuốc lá

1.1. Thực trạng sử dụng thuốc lá:

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người hút thuốc lá, 84% số người hút thuốc lá sống tại các nước đang phát triển.

Việt Nam nằm trong nhóm 15 quốc gia có số lượng người sử dụng thuốc lá cao hàng đầu thế giới. Tỷ lệ đang hút thuốc lá, thuốc lào hiện nay (tổng dân số từ 15 tuổi trở lên) là 23,8% tương đương 15,3 triệu người, trong đó, tỷ lệ hút thuốc lá điếu là 19,9% (khoảng 12,8 triệu người), tỷ lệ hút thuốc lào là 6,4% (khoảng 4,1 triệu người), còn lại là tỷ lệ sử dụng các dạng thuốc lá khác. Trong số người trưởng thành, tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới là 47,4% và ở nữ giới là 1,4%. Nhóm tuổi có tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất là trong độ tuổi lao động (từ 25 đến 50 tuổi). Tỷ lệ hút thuốc lá ở nông thôn cao hơn so với thành thị, người nghèo có tỷ lệ hút thuốc lá cao hơn người giàu. Thanh thiếu niên bắt đầu sử dụng thuốc lá sớm và dễ dàng tiếp cận thuốc lá.

Đối với người hút thuốc lá thụ động: tỷ lệ bị phơi nhiễm với khói thuốc lá tại nhà là 67,6% và tại nơi làm việc là 49,0%. Đặc biệt, tỷ lệ phơi nhiễm với khói thuốc lá ở nhà của phụ nữ gần 70%, của trẻ em gần 50%. Như vậy, số người phải thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động ở nước ta rất cao.1

1.2. Tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người và kinh tế- xã hội:

Mặc dù ngành công nghiệp thuốc lá có những đóng góp nhất định cho nguồn thu ngân sách, giải quyết việc làm cho một bộ phận người lao động nhưng tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người và kinh tế - xã hội là những tổn thất khó bù đắp được.

Tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người:

Hút thuốc lá là nguyên nhân của 25 căn bệnh, trong đó có nhiều bệnh nguy hiểm như: ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch và các bệnh khác (ung thư vòm họng, ung thư da, loãng xương, ung thư thanh quản, phế quản, đục nhãn mắt, loét dạ dày, liệt dương, giảm khả năng sinh sản…) do khói thuốc lá có chứa hơn 7.000 chất hoá học, trong đó có nicotine là chất gây nghiện và khoảng 70 chất là tác nhân gây ung thư, điển hình là các chất như nhựa thuốc lá (tar), benzen, carbon monoxide.... Người nghiện thuốc lá có nguy cơ tử vong cao gấp 2,5 đến 10 lần so với người không hút thuốc lá.

Hút thuốc lá thụ động cũng là một nguy cơ lớn ảnh hưởng tới sức khỏe do khói tỏa ra từ đầu điếu thuốc lá đang cháy độc hại hơn khói thuốc lá do người hút thở ra. Người thường xuyên hít phải khói thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi cao hơn 26% so với người không hít phải khói thuốc lá. Khói thuốc lá thụ động là một trong các tác nhân gây nhiều bệnh về tim mạch, phổi, làm suy giảm chức năng hô hấp và ảnh hưởng tới chức năng sinh sản ở cả nam và nữ. Khói thuốc lá thụ động làm tăng nguy cơ bệnh tim lên 25 - 30%, mắc bệnh phổi lên 25% và tăng nguy cơ đột quỵ lên 82% 2.

Tại Việt Nam, trong số 4 nguyên nhân gây tử vong cao thì thuốc lá đứng hàng thứ hai sau HIV và tiếp theo thuốc lá là rượu và tai nạn giao thông. Đối với nam giới, thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong sớm với gần 11% tổng số ca tử vong3. Tổ chức Y tế thế giới ước tính, mỗi năm Việt Nam có khoảng 40.000 người tử vong vì các bệnh có liên quan đến thuốc lá và nếu không có biện pháp kịp thời, đến năm 2030, con số này sẽ tăng lên tới 70.000 người (gấp gần 4 lần số ca tử vong vì tai nạn giao thông đường bộ tại nước ta mỗi năm).

Tác hại của thuốc lá đối với kinh tế - xã hội:

Thuốc lá gây thiệt hại 500 tỷ đô la mỗi năm cho nền kinh tế thế giới. Ước tính, chi phí y tế điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá, giảm năng suất lao động và các chi phí xã hội khác chiếm 3,6% GDP.4 Chi phí xã hội cho việc sử dụng thuốc lá tại các nước rất cao, ví dụ: Tại Mỹ, mức tổn thất này được ước tính là 184,5 tỷ đô la Mỹ (USD) mỗi năm; tại Đức là 24,4 tỷ USD; tại Pháp là 16,4 tỷ USD; tại Australia là 14,2 tỷ USD và Trung Quốc là 4,3 tỷ USD.5 Gánh nặng chi phí y tế để điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá đang là một thách thức đối với nhiều quốc gia. Theo số liệu của các nước phát triển, chi phí điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá chiếm khoảng 6 - 15% tổng chi phí y tế.6

Tại Việt Nam, năm 2010, chỉ riêng chi phí điều trị cho 3 trong số 25 loại bệnh phổ biến nhất liên quan đến thuốc lá (ung thư phổi, bệnh mạch vành, bệnh phổi tắc nghẽn) đã là 2.304 tỷ đồng.

Chi tiêu cho thuốc lá làm giảm các chi tiêu thiết yếu khác của hộ gia đình, đặc biệt là hộ có thu nhập thấp. Một người hút thuốc lá trong một năm tiêu hết số tiền bằng 1/3 số tiền chi cho lương thực, gấp 1,5 lần so với chi cho giáo dục, gấp 5 lần chi phí y tế tính theo bình quân đầu người.7 Như vậy, hút thuốc lá là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nghèo đói.

Bên cạnh đó, thuốc lá còn gây ra những ảnh hưởng có hại khác đến vệ sinh môi trường, làm gia tăng hoạt động buôn lậu, gây ra nguy cơ cháy nổ.

Hút thuốc lá là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời. Một nghiên cứu tại 2 phường nội thành Hà Nội cho thấy: Hàm lượng nicotine trong không khí tại nhà ở khá cao (trung bình 0,687 mg/m3 ). Hàm lượng khí Co trong không khí tại nhà ở của các gia đình có người hút thuốc cao gấp 2,4 lần nồng độ giới hạn cho phép.

Theo ước tính, trên thế giới mỗi năm có khoảng 200.000 héc ta rừng (chiếm 1,7% diện tích rừng) bị phá do việc trồng cây thuốc lá. Ở Việt Nam, một nghiên cứu cho thấy khoảng 49% nông dân dùng củi để sấy thuốc lá, 75% trong số họ nói rằng lấy củi này từ rừng.8

Theo thống kê của thế giới, hỏa hoạn do nguyên nhân thuốc lá chiếm 10% tổng số các vụ hỏa hoạn, gây ra 300.000 ca tử vong và thiệt hại vật chất lên tới 27 tỷ USD. Riêng ở Mỹ năm 2002 có tới 14.450 vụ cháy do thuốc lá gây ra, làm chết 520 người và bị thương 1.330 người. 9

Thực trạng trên cho thấy nhà nước cần phải ban hành Luật tạo cơ sở pháp lý đủ mạnh để tổ chức hiệu quả hơn công tác PCTHTL, giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá, khắc phục những hậu quả do sử dụng thuốc lá gây ra nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân.

2. Yêu cầu kiểm soát hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc lá đòi hỏi ban hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá

Cả nước hiện có 17 doanh nghiệp sản xuất thuốc lá điếu với diện tích trồng thuốc lá gần 16.000 ha; có gần 20.000 lao động làm việc trong ngành công nghiệp thuốc lá và gần 220.000 lao động nông nghiệp trong sản xuất nguyên liệu. Tổng sản lượng của toàn ngành thuốc lá có xu hướng tăng nhanh trong khoảng 10 năm gần đây. Năm 2000, sản lượng đạt khoảng 2,7 tỷ bao, con số này đã tăng lên khoảng trên 4 tỷ bao năm 2007, khoảng 4,8 tỷ bao năm 2009 và 5,2 tỷ bao năm 2010.

Giá thuốc lá ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới, trung bình khoảng 5.500 đồng/bao (tương đương 0,29 USD/bao), có loại chỉ khoảng 4.000 đồng/bao (trong khi Trung Quốc là 1,52 USD/bao, Malaysia là 1,32 USD/bao, đặc biệt ở Anh là 6,93 USD/bao). Điều này làm cho thanh thiếu niên và người nghèo Việt Nam dễ dàng tiếp cận với thuốc lá hơn so với các quốc gia khác trên thế giới.

Bên cạnh đó, tình hình vi phạm các quy định về sản xuất kinh doanh thuốc lá liên quan đến cấm quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị vẫn còn tương đối phổ biến, hoạt động kinh doanh và sử dụng thuốc lá lậu vẫn chưa được kiểm soát hiệu quả. Tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trong số 615 cửa hàng bán thuốc lá có sự hiện diện của 150 loại nhãn mác thuốc lá thì có tới 45 loại lưu hành trái phép (không tem, cấm nhập…).; số thuốc lá có khuyến mãi trong bao thuốc lá chiếm 35%; có 16% thuốc lá không ghi hàm lượng tar và nicotine; có 7% không in lời cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá; diện tích in lời cảnh báo sức khỏe chiếm dưới 10% diện tích vỏ bao thuốc lá là gần 75%, vị trí in lời cảnh báo bên cạnh vỏ bao thuốc lá là 97%10. Bên cạnh đó, vi phạm về quảng cáo, khuyến mại vẫn diễn ra khá thường xuyên, trong 1.433 điểm bán thuốc lá trên 10 tỉnh, có 32,6% điểm bán vi phạm, tăng 3,7% so với năm 200911.

3. Yêu cầu phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá đòi hỏi phải ban hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá

Các văn bản pháp luật về PCTHTL, kể cả quản lý kinh doanh thuốc lá đến nay phần nhiều đã lạc hậu, không theo kịp các yêu cầu mới nảy sinh, chưa bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, toàn diện. Các quy định về xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này chưa đủ mạnh nên hiệu quả chưa cao. Các văn bản pháp luật về sản xuất, kinh doanh thuốc lá chưa chú trọng đến nội dung PCTHTL, đặc biệt giá và thuế thuốc lá còn ở mức thấp.

Mặt khác, hệ thống văn bản pháp luật về PCTHTL còn nhiều khoảng trống (chưa có quy định về thông tin, giáo dục, truyền thông; quyền của người không hút thuốc lá; trách nhiệm của người đứng đầu địa điểm cấm hút thuốc lá; in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh; huy động tài chính cho PCTHTL)12, một số văn bản đã bộc lộ những mâu thuẫn, chồng chéo (quy định về in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá không thống nhất, còn chồng chéo giữa các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Y tế)13.

Do đó, cần phải ban hành Luật PCTHTL để có văn bản pháp lý có tính thống nhất, đồng bộ, hiệu lực pháp lý cao về PCTHTL.

4. Yêu cầu hội nhập quốc tế trong phòng, chống tác hại của thuốc lá đòi hỏi phải ban hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá:

Ngày 11/11/2004, Việt Nam đã tham gia Công ước khung về kiểm soát thuốc lá của Tổ chức Y tế thế giới và hiện nay Công ước đã có hiệu lực áp dụng tại Việt Nam. Do vậy, cần phải nội luật hóa Công ước này thành luật để có cơ sở pháp lý đủ mạnh, tổ chức hiệu quả công tác PCTHTL ở nước ta.

Bên cạnh đó, hiện nay, nâng cao sức khỏe trong đó có PCTHTL là một nhiệm vụ quan trọng của công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, đây là vấn đề của thời đại, của cả các nước phát triển và đang phát triển khi mà số người chết do các bệnh không lây nhiễm đã chiếm đến hơn 50% số tử vong và trong số đó có tỷ lệ đáng kể người chết sớm (trước 60 tuổi). Đó chính là những cái chết tức tưởi, lẽ ra chúng ta có thể phòng được nếu có sự quan tâm hợp lý thông qua biện pháp phòng bệnh cho người dân ngay từ khi còn khỏe mạnh. Tháng 10/2011, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết về Phòng, chống các bệnh không lây nhiễm, trong đó có đề nghị các quốc gia hãy quan tâm ban hành chính sách, pháp luật và đầu tư nguồn lực để phòng, chống và hạn chế các nguy cơ gây ra bệnh không lây nhiễm như hút thuốc lá, lạm dụng rượu, bia…

Từ các phân tích trên đây cho thấy, việc ban hành Luật PCTHTL là hết sức cần thiết.


II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT PCTHTL:

Luật PCTHTL là đạo luật về sức khỏe, không phải là đạo luật quy định về kiểm soát hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc lá thuần túy. Do vậy, quan điểm quan trọng hàng đầu và xuyên suốt quá trình xây dựng Luật này là thực hiện đồng bộ các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, kiểm soát chặt chẽ và từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá vì lợi ích sức khỏe của nhân dân.

Bên cạnh đó, việc xây dựng Luật còn phải bảo đảm các quan điểm khác như: Bảo đảm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay và tương lai; Kế thừa và phát triển các quy định pháp luật hiện hành đang phát huy hiệu quả trên thực tiễn; Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, có tính khả thi trong thực tế và bảo đảm yêu cầu lồng ghép giới; Đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của Công ước khung về kiểm soát thuốc lá mà Việt Nam là thành viên; Tham khảo kinh nghiệm quốc tế, vận dụng phù hợp vào điều kiện của Việt Nam, bảo đảm yếu tố hội nhập.


III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT PCTHTL

1. Bố cục và nội dung cơ bản của Luật:

Luật có 5 chương và 35 điều, với các chính sách pháp luật cơ bản về giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, kiểm soát chặt chẽ để giảm nguồn cung cấp thuốc lá và điều kiện bảo đảm để thực hiện hiệu quả công tác PCTHTL, cụ thể là:

1.1. Chương I. Những quy định chung gồm có 9 điều: phạm vi điều chỉnh (Điều 1); giải thích từ ngữ (Điều 2); nguyên tắc PCTHTL (Điều 3); chính sách của Nhà nước về PCTHTL (Điều 4); trách nhiệm quản lý nhà nước về PCTHTL (Điều 5); trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, địa phương trong PCTHTL (Điều 6); quyền và nghĩa vụ của công dân trong PCTHTL (Điều 7); hợp tác quốc tế trong PCTHTL (Điều 8) và các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 9).

Chương này quy định những nội dung cơ bản về PCTHTL bao gồm phạm vi điều chỉnh, các nguyên tắc mang tính định hướng, chính sách cơ bản để thúc đẩy công tác PCTHTL và các hành vi bị nghiêm cấm trong PCTHTL.

Để thực hiện đồng bộ, thống nhất, toàn diện, hiệu quả công tác PCTHTL, Luật quy định đồng thời cả các biện pháp giảm cầu và giảm cung đối với thuốc lá. Trong đó, chú trọng trước hết đến các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng đối với thuốc lá để từng bước giảm số người sử dụng thuốc lá, giảm tác hại của thuốc lá, kết hợp với các biện pháp giảm dần nguồn cung cấp thuốc lá có định hướng, theo lộ trình, bảo đảm tính khả thi và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Mục đích ban hành Luật là nhằm bảo đảm công tác PCTHTL nên Luật không quy định cụ thể về hoạt động kinh doanh thuốc lá mà chỉ quy định những nội dung kinh doanh thuốc lá liên quan chặt chẽ đến PCTHTL, những vấn đề chưa được quy định trong các văn bản pháp luật khác và những vấn đề làm cơ sở pháp lý chung để Chính phủ căn cứ vào Luật, quy định cụ thể cho hoạt động kinh doanh thuốc lá.

Nhằm làm rõ khái niệm, từ đó giúp người dân có cách hiểu chung, thống nhất về các quy phạm được quy định trong Luật, Luật đã giải thích một số từ ngữ quan trọng, được sử dụng nhiều lần, bao gồm các khái niệm: thuốc lá, sản phẩm mô phỏng thuốc lá, tác hại của thuốc lá, cảnh báo sức khoẻ, địa điểm công cộng, nơi làm việc, trong nhà….

Luật quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về PCTHTL. Bộ Y tế là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về PCTHTL. Các bộ, ngành có liên quan, đặc biệt là Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chủ động thực hiện nhiệm vụ về PCTHTL thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách; phối hợp với Bộ Y tế trong việc thực hiện quản lý nhà nước về PCTHTL. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về PCTHTL trong phạm vi địa phương. Quy định này giúp phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan có liên quan, là cơ sở để triển khai thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra trong PCTHTL.

Trong PCTHTL có hai nhóm chủ thể quan trọng liên quan trực tiếp là các cơ sở kinh doanh thuốc lá và những người sử dụng thuốc lá. Để phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật của hai chủ thể nói trên và những đối tượng khác có liên quan, Luật đã quy định 9 nhóm hành vi bị cấm trong PCTHTL, đó là: Sản xuất, mua bán, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá giả, sản phẩm được thiết kế có hình thức hoặc kiểu dáng như bao gói hoặc điếu thuốc lá; mua bán, tàng trữ, vận chuyển nguyên liệu thuốc lá, thuốc lá nhập lậu; Quảng cáo, khuyến mại thuốc lá; tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng dưới mọi hình thức; Tài trợ của tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá, trừ trường hợp quy định tại Điều 16 của Luật này; Người chưa đủ 18 tuổi sử dụng, mua, bán thuốc lá; Sử dụng người chưa đủ 18 tuổi mua, bán thuốc lá; Bán, cung cấp thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi; Bán thuốc lá bằng máy bán thuốc lá tự động; hút, bán thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm; Sử dụng hình ảnh thuốc lá trên báo chí, xuất bản phẩm dành riêng cho trẻ em; Vận động, ép buộc người khác sử dụng thuốc lá.

1.2. Chương II. Các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá gồm có 9 điều, quy định về: thông tin, giáo dục, truyền thông về PCTHTL (Điều 10); địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn (Điều 11); địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá (Điều 12); nghĩa vụ của người hút thuốc lá (Điều 13); quyền và trách nhiệm của người đứng đầu, người quản lý địa điểm cấm hút thuốc lá (Điều 14); ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá (Điều 15); hoạt động tài trợ (Điều 16); cai nghiện thuốc lá (Điều 17); trách nhiệm trong hỗ trợ cai nghiện thuốc lá (Điều 18).

Các biện pháp này, đặc biệt là quy định cấm hút thuốc lá tại địa điểm công cộng, quy định in cảnh báo sức khỏe bằng chữ và hình ảnh chiếm 50% diện tích chính của bao bì thuốc lá nhằm nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của thuốc lá, bảo vệ sức khỏe của những người không hút thuốc lá, hạn chế tiếp cận thuốc lá, ngăn ngừa tác hại của thuốc lá, tiến tới thay đổi hành vi, giúp người chưa hút thuốc lá không bắt đầu hút, người đang hút thuốc lá giảm dần và không hút thuốc lá, từ đó giúp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá.

Người đứng đầu các địa điểm công cộng có vai trò quan trọng trong thực thi quy định cấm hút thuốc lá nơi công cộng. Nếu người đứng đầu tuân thủ nghiêm quy định, họ sẽ tổ chức và bảo đảm các điều kiện để triển khai quy định tại địa điểm do mình quản lý, điều hành. Do vậy, Luật quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của người đứng đầu trong việc hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc mọi người thực hiện đúng quy định về cấm hút thuốc lá tại địa điểm do mình quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu không thực hiện đúng quy định về cấm hút thuốc lá.

Thực hiện quy định tại Điều 14 Công ước khung FCTC về biện pháp giảm cầu liên quan đến cai nghiện thuốc lá, để hạn chế tác hại cũng như giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá, Luật quy định cụ thể việc hỗ trợ cai nghiệm thuốc lá. Đồng thời, việc sản xuất, nhập khẩu và sử dụng các thuốc cai nghiện, điều trị nghiện thuốc lá được hưởng mức thuế ưu đãi theo quy định của pháp luật.

1.3. Chương III. Các biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá gồm có 9 điều, quy định về: quản lý kinh doanh thuốc lá (Điều 19); quy hoạch kinh doanh thuốc lá (Điều 20); kiểm soát đầu tư sản xuất thuốc lá (Điều 21); kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước (Điều 22); quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá (Điều 23); số lượng điếu thuốc lá trong bao, gói (Điều 24); bán thuốc lá (Điều 25); các biện pháp phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả (Điều 26); trách nhiệm phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả (Điều 27).

Các biện pháp này nhằm mục tiêu kiểm soát chặt chẽ hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc lá để giảm dần nguồn cung cấp thuốc lá một cách chủ động, gắn liền với tốc độ giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, góp phần PCTHTL một cách hiệu quả và bền vững. Trong đó, Luật quy định việc kiểm soát hoạt động kinh doanh thuốc lá thông qua quy hoạch, cấp phép và quản lý sản lượng thuốc lá; quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá; quy định cấm bán thuốc lá tại các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá, quy định cụ thể biện pháp và trách nhiệm của các cơ quan trong phòng, chống thuốc lá lậu nhằm hạn chế tình trạng buôn lậu thuốc lá ngày càng tăng tại Việt Nam.

1.4. Chương IV. Các điều kiện bảo đảm để PCTHTL gồm có 5 điều, quy định về: thành lập Quỹ PCTHTL (Điều 28); mục đích và nhiệm vụ của quỹ (Điều 29); nguồn hình thành và nguyên tắc sử dụng quỹ (Điều 30); xử lý vi phạm pháp luật về PCTHTL (Điều 30); trách nhiệm xử lý vi phạm pháp luật về PCTHTL (Điều 31).

Các biện pháp này tạo điều kiện bảo đảm bằng cách huy động nguồn kinh phí xã hội hóa ổn định, bền vững cho công tác PCTHTL, quy định các chế tài và trách nhiệm xử lý vi phạm để bảo đảm tính khả thi của Luật.

Công tác PCTHTL đòi hỏi nguồn kinh phí lớn và ổn định nên không thể lấy từ ngân sách nhà nước mà phải trên cơ sở xã hội hóa, huy động sự đóng góp của xã hội, đặc biệt là từ cơ sở sản xuất thuốc lá nhằm tăng tính cảnh báo về tác hại của thuốc lá và khuyến khích giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá. Luật quy định thành lập Quỹ PCTHTL để huy động, cung cấp và điều phối nguồn lực tài chính của Quỹ cho các hoạt động PCTHTL trên phạm vi toàn quốc.

Quỹ PCTHTL sẽ góp phần quan trọng để bảo vệ sức khỏe người dân, giảm chi phí y tế vốn ngày càng tăng với nguồn kinh phí ổn định và không phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Đó chính là giải pháp rất nhân văn, khắc phục được những khó khăn của cơ chế quản lý hiện hành, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và cũng là điều mà nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đang áp dụng.

1.5. Chương V. Điều khoản thi hành bao gồm 3 điều, quy định về: hiệu lực thi hành (Điều 33); điều khoản chuyển tiếp (Điều 34); quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành (Điều 35).

  1   2   3   4

Thêm một tài liệu vào blog hoặc website của bạn

liên quan:

GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ iconGIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN

GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ iconĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI

GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ iconGIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ iconGiới thiệu về Hợp phần Cỏ biển thuộc Dự án Ngăn ngừa xu hướng suy thoái môi trường Biển Đông và Vịnh Thái Lan

GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ iconLUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY

GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ iconĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT QUẢNG CÁO

GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ iconMỘT SỐ GÓP Ý CHO DỰ THẢO LUẬT PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN

GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ iconĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ iconĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT QUY HOẠCH ĐÔ THỊ I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT QUY HOẠCH ĐÔ THỊ

GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ iconTỜ TRÌNH D ự án Luật phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) ­­­­­­­­

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương