CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010




tải về 90.67 Kb.
TênCHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010
Chuyển đổi dữ liệu08.09.2012
Kích90.67 Kb.
loạiChương trình
CHƯƠNG TRÌNH

PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA

CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010

(Ban hành kèm theo Nghị quyết số 52-NQ/TU ngày 10/5/2006 của Tỉnh uỷ)

­

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Tỉnh uỷ xây dựng Chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, giai đoạn 2006-2010 như sau:

A- KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA GIAI ĐOẠN 2001-2005;

NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC

Thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XV) về Chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá giai đoạn 2001-2005; trong những năm qua, tình hình sản xuất nông nghiệp của tỉnh có những bước phát triển, tiến bộ đáng kể. Đã tạo ra những thay đổi rõ rệt trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, cả về cơ cấu sản xuất, năng suất, chất lượng, hiệu quả; đồng thời, có những chuyển dịch theo hướng đa dạng hoá sản phẩm và gắn sản xuất với thị trường, được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Thâm canh đang trở thành xu hướng chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp với việc áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới về giống, quy trình canh tác và chế biến sản phẩm. Tổng sản lượng lương thực tăng nhanh, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, dành quỹ đất để chuyển sang nuôi, trồng các cây, con khác có giá trị kinh tế cao hơn.

Hầu hết các nội dung của Chương trình đều đạt và vượt mục tiêu đề ra, tạo tiền đề cho việc sản xuất nông nghiệp hàng hoá trong giai đoạn tới: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của nông, lâm, ngư nghiệp giai đoạn 2001-2005 là 5,0%; chiếm 43,3% GDP của tỉnh; trong đó, cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp: trồng trọt đạt 2.503 tỷ đồng, chiếm 65,8%; chăn nuôi đạt 1.179 tỷ đồng, chiếm 31%; dịch vụ nông nghiệp đạt 121 tỷ đồng, chiếm 3,2%.

Đã hình thành vùng sản xuất hàng hoá như: Vùng cây ăn quả, lạc, đậu tương và cây thực phẩm; ngày càng xuất hiện nhiều hộ chăn nuôi với quy mô lớn theo phương pháp bán công nghiệp và công nghiệp. Phong trào xây dựng cánh đồng đạt và vượt 50 triệu đồng/ha/năm và hộ thu nhập 50 triệu đồng/năm đã được nông dân tích cực thực hiện, tạo ra một bước đổi mới về tư duy canh tác; giá trị sản xuất bình quân đất nông nghiệp đã tăng từ 19 triệu đồng/ha/năm (năm 2000) lên 26 triệu đồng/ha/năm (năm 2005).

Tuy nhiên, tình hình phát triển nông nghiệp của tỉnh vẫn còn có những mặt hạn chế, yếu kém: Việc chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp còn chậm và không đồng đều. Cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt tuy giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao. Chăn nuôi chưa tương xứng với tiềm năng; dịch vụ nông nghiệp nông thôn chậm phát triển, chưa thu hút được nhiều lao động. Sản xuất nông nghiệp hàng hóa của tỉnh còn dàn trải, trình độ sản xuất hàng hoá thấp, quy mô sản xuất phân tán, nhỏ lẻ; chưa chú ý xây dựng thương hiệu. Sản lượng nông sản hàng hóa (trừ vải thiều) còn rất nhỏ, kể cả những sản phẩm có thế mạnh như: lạc, đậu tương, lợn, cá… Chất lượng nông sản chưa cao, tính cạnh tranh thấp. Cây công nghiệp, cây ăn quả, rau màu đã được chú ý phát triển, song chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh, chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường. Trình độ thâm canh, mức độ đầu tư bình quân cho sản xuất nông nghiệp còn thấp. Sản xuất nông sản hàng hóa chưa gắn được với chế biến. Tỷ lệ nông sản sạch, nông sản qua chế biến còn rất nhỏ so với sản lượng nông sản hiện có. Việc tiêu thụ nông sản chủ yếu ở dạng thô, nên giá trị thấp và giá cả không ổn định.

Nguyên nhân của những hạn chế:

Ruộng đất ở nông thôn bị chia nhỏ, manh mún; định mức diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, không phù hợp với yêu cầu của sản xuất nông nghiệp hàng hoá.

Quy hoạch chuyên ngành, quy hoạch vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá chưa được chú trọng; thiếu các chính sách và dự án đầu tư khi cụ thể hoá quy hoạch. Cơ sở hạ tầng yếu kém, nhất là cơ sở kỹ thuật phục vụ chế biến. Cơ cấu đầu tư cho nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Trình độ sản xuất, quản lý của nông dân còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hàng hoá. Việc phát triển nhân rộng các mô hình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao còn chậm, chưa thực sự gắn kết từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.

Những thuận lợi và khó khăn, thách thức chủ yếu đối với sản xuất nông nghiệp hàng hoá của tỉnh trong thời gian tới:

- Về thuận lợi: Mặc dù còn có những yếu kém, hạn chế trên; song, những kết quả đạt được của Chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá của tỉnh giai đoạn 2001-2005 đã tạo ra một bước tư duy mới trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về sản xuất hàng hoá. Cùng với những kết quả đó, sản xuất lương thực của tỉnh tăng trưởng ổn định; cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp được đầu tư và phát huy có hiệu quả đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá trên địa bàn tỉnh.

Ngoài ra, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã có kế hoạch triển khai 26 chương trình, dự án giai đoạn 2006-2010, nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao cho sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; trong đó, có nhiều chương trình tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Mặt khác, khi nước ta hội nhập đầy đủ vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN và trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO); tỉnh có lợi thế là tiếp giáp với thị trường các tỉnh phía Nam của Trung Quốc, thuận lợi cho việc buôn, bán nông sản, tiếp thu khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ sản xuất... Đó chính là những thuận lợi cơ bản để chúng ta xây dựng và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá.

- Về khó khăn, thách thức: Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, cũng còn không ít khó khăn, thách thức đối với sản xuất nông nghiệp của nước ta nói chung và của tỉnh nói riêng, đó là: Sự cạnh tranh quyết liệt của các nước trong khu vực về năng suất, chất lượng, mẫu mã, thương hiệu và giá thành sản phẩm. Việc trợ giá nông nghiệp của các nước phát triển có ảnh hưởng sâu sắc đến sự cạnh tranh của các mặt hàng nông sản nước ta; đặc biệt Trung Quốc dự kiến có khoảng 500 mặt hàng nông sản xuất sang Việt Nam với thuế suất là 0%, sẽ là những áp lực lớn đối với nông sản của Việt Nam. Trong khi đó, chúng ta phải thực hiện đầy đủ những cam kết của WTO về các rào cản thương mại, nhất là việc người nông dân không được sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước; tính rủi ro trong sản xuất nông nghiệp thường cao: thiên tai, dịch bệnh; giá cả thị trường thay đổi bất lợi đối với người dân...

Ngoài ra, việc thực hiện Chương trình sản xuất nông nghiệp hàng hoá của tỉnh còn gặp những khó khăn, thách thức do: Trình độ lao động trong độ tuổi ở nông thôn thấp, thiếu vốn và thiếu trình độ kỹ thuật, kiến thức, kỹ năng, phương pháp liên kết và hợp tác; mặt khác, người dân vẫn mang nặng tư duy sản xuất nhỏ, tiểu nông, trông chờ, ỷ lại; số hộ nông dân biết đầu tư vào sản xuất để có lãi chưa nhiều, đa số vẫn mang tính kinh nghiệm, lấy công làm lãi; chi phí sản xuất cao; quá trình cơ giới hoá nông nghiệp và việc áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến diễn ra còn chậm; việc ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học vào sản xuất chưa nhiều. Hầu hết các khâu sản xuất ở những vùng nông thôn đều làm thủ công; công nghiệp chế biến nông sản lạc hậu, dẫn đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao, khó cạnh tranh trên thị trường.


B- MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM VÀ GIẢI PHÁP

CHỦ YẾU THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT

NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA GIAI ĐOẠN 2006-201

----------

I- MỤC TIÊU

1- Mục tiêu tổng quát

Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa bền vững, hiệu quả, bảo đảm an ninh lương thực; tạo điều kiện chuyển đổi, phát triển một số cây trồng, vật nuôi hàng hoá là thế mạnh của tỉnh.

Đầu tư phát triển các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp hàng hoá với những sản phẩm có ưu thế phù hợp với điều kiện của tỉnh như: Vùng chuyên canh cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm, lúa chất lượng cao; vùng chăn nuôi, thuỷ sản tập trung, với hình thức chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp và bán công nghiệp; vùng trồng rừng nguyên liệu tập trung phục vụ chế biến và xuất khẩu... để tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của tỉnh, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của nông dân, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.

2- Một số mục tiêu cụ thể đến năm 2010

- Tốc độ tăngngành nông, lâm, thủy sản bình quân đạt 4,0- 4,2%/năm.

- Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp: Trồng trọt 61%, chăn nuôi 35%, dịch vụ nông nghiệp 4%.

- Giá trị sản xuất bình quân/ha đất nông nghiệp đạt 33 - 34 triệu đồng.

- Lương thực có hạt đạt 620 ngàn tấn; trong đó, sản lượng thóc hàng hoá 120-150 ngàn tấn. Lương thực có hạt bình quân/người đạt 370 kg.


II- NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM

1- Nông nghiệp: Tập trung chỉ đạo phát triển mạnh 4 loại cây trồng và 2 loại vật nuôi sau:

1.1- Cây ăn quả

Nhiệm vụ:

Trong những năm tới, sẽ chuyển một phần diện tích cây ăn quả (chủ yếu là cây vải) ở những vùng đồi cao, hiệu quả kinh tế thấp sang trồng cây lâm nghiệp. Đến năm 2010, giữ ổn định diện tích cây ăn quả 45.000 ha; sản lượng 180-220 ngàn tấn. Tập trung vào cây ăn quả hàng hóa chủ yếu là cây vải.

Đối với cây vải: Giữ ổn định diện tích là 35 nghìn ha; sản lượng 130-150 ngàn tấn. Vùng trọng điểm là các huyện: Lục Ngạn, Lục Nam, Lạng Giang, Yên Thế, Tân Yên.

Biện pháp thực hiện:

Giải quyết tốt công tác phòng trừ "sâu đầu quả" ở cây vải. Thâm canh tăng năng suất bằng việc sử dụng công nghệ sinh học để có vùng vải chất lượng cao và an toàn, phục vụ cho xuất khẩu và chế biến.

Cơ cấu lại giống vải để rải vụ thu hoạch: Diện tích trồng vải chín sớm chiếm 15-20%, bằng các giống vải Phúc Hòa, U Hồng, Bình Khê; diện tích trồng vải chính vụ chiếm 70-75% bằng các giống vải Thiều; tích cực tuyển chọn một số giống vải chín muộn để đưa vào cơ cấu từ 5-10%. Xây dựng chính sách đầu tư hỗ trợ cải tạo vườn vải theo cơ cấu giống rải vụ bằng phương pháp trồng lại và ghép cải tạo; trong đó, phương pháp ghép cải tạo là giải pháp chính.

Xây dựng và quảng bá thương hiệu vải thiều Lục Ngạn - Bắc Giang. Áp dụng các công nghệ kỹ thuật trong bảo quản, chế biến vải, nhất là quả tươi, nâng cao chất lượng vải sấy khô, công nghệ ép nước vải quả tươi đóng hộp.

1.2- Cây lương thực

Nhiệm vụ:

Giữ ổn định diện tích gieo trồng cây lương thực 120,5 nghìn ha, trong đó diện tích lúa là 105 nghìn ha; tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 620 nghìn tấn, trong đó sản lượng thóc 561 nghìn tấn, ngô 59 nghìn tấn.

Xây dựng vùng lúa thâm canh cao có tổng diện tích gieo trồng 35 nghìn ha, sản lượng 180-200 nghìn tấn, tại các huyện: Yên Dũng, Việt Yên, Lạng Giang, Lục Nam, Tân Yên, Hiệp Hoà. Phấn đấu đảm bảo an ninh lương thực và có 120-150 nghìn tấn lương thực hàng hoá.

Biện pháp thực hiện:

Trong vùng lúa thâm canh cao: Sử dụng bộ giống lúa mới có năng suất cao đã được khẳng định thích hợp cho từng vùng và 100% diện tích gieo trồng bằng giống có năng suất cao, chất lượng tốt. Chỉ đạo áp dụng chặt chẽ các quy trình thâm canh tiên tiến. Bảo đảm 100% diện tích được tưới tiêu chủ động. Cải tạo nâng cao độ phì của đất bằng việc sử dụng phân bón vi sinh, phân hữu cơ. Làm tốt công tác bảo vệ thực vật theo phương pháp IPM. Tập huấn chuyển giao kỹ thuật sản xuất lúa thâm canh cao và lúa chất lượng cao cho nông dân trong vùng quy hoạch.

1.3- Cây thực phẩm

Nhiệm vụ:

Đưa tổng diện tích trồng cây thực phẩm từ 21 nghìn ha (năm 2005) lên 25,5 nghìn ha vào năm 2010, đạt sản lượng 286 nghìn tấn, tập trung ở các huyện: Việt Yên, Lạng Giang, Lục Nam, Tân Yên và thành phố Bắc Giang.

Chỉ đạo xây dựng một số vùng chuyên canh sản xuất rau hàng hóa gồm:

- Vùng sản xuất khoai tây quy mô 6 nghìn ha, sản lượng 96 nghìn tấn/năm. Tập trung ở các huyện: Hiệp Hòa, Việt Yên, Lục Nam, Yên Dũng, Lạng Giang, Tân Yên.

- Vùng sản xuất một số cây rau phục vụ công nghiệp chế biến, xuất khẩu như dưa chuột bao tử, cà chua, ngô bao tử, cà rốt, nấm ăn… với quy mô 1,45 nghìn ha tại huyện Hiệp Hòa, Tân Yên, Lạng Giang, Lục Nam, Việt Yên, Yên Dũng.

- Đầu tư xây dựng một số điểm sản xuất rau an toàn với diện tích 900 ha tại thành phố Bắc Giang, huyện Việt Yên, Lạng Giang; trong đó, diện tích trồng rau an toàn ứng dụng công nghệ cao (nhà lưới, tưới phun) 1-5 ha.

- Các vùng rau hàng hóa khác ở Lục Nam, Yên Dũng, Lạng Giang.

Biện pháp thực hiện:

Sử dụng các giống khoai tây có năng suất, chất lượng cao, sạch bệnh phục vụ chế biến, chủ lực là những giống diamant, mariella, KT3. Có chính sách khuyến khích các cơ sở đầu tư xây dựng các kho lạnh bảo quản giống.

Khoanh vùng quy hoạch, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến rau quả trong và ngoài tỉnh đầu tư, ký hợp đồng tiêu thụ các loại rau thực phẩm cho nông dân. Có chính sách khuyến khích các cơ sở đầu tư xây dựng dự án sản xuất rau ứng dụng công nghệ cao (nhà lưới, tưới phun).


1.4- Cây công nghiệp ngắn ngày

Nhiệm vụ:

Xác định lạc là cây hàng hóa thế mạnh của tỉnh. Phấn đấu mở rộng diện tích lên 1,5 nghìn ha, năng suất 22 tạ/ha để đạt sản lượng 25 nghìn tấn.

Vùng trọng điểm trồng lạc hàng hoá tập trung thâm canh của tỉnh có quy mô 8,9 nghìn ha, chiếm 77,4% tổng diện tích, ở các huyện: Tân Yên, Lục Nam, Hiệp Hòa, Việt Yên, Lạng Giang, Yên Thế. Phấn đấu sản lượng lạc của vùng đạt 19,6 nghìn tấn/năm, chiếm 78,4% tổng sản lượng.

Biện pháp thực hiện:

Tập trung phát triển sản xuất ở vụ xuân và vụ thu đông.

Tổ chức tốt khâu sản xuất và cung ứng giống để bảo đảm giống đưa vào gieo trồng có phẩm cấp tốt. Bảo đảm 100% diện tích trồng bằng giống mới; trong đó, chủ lực là giống L14, MD7 có năng suất cao, màu sắc phù hợp thị hiếu và trọng lượng hạt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.

Áp dụng công nghệ trồng lạc che phủ nilon. Tăng cường chỉ đạo đầu tư thâm canh, sử dụng phân bón vi sinh, vi lượng, phân bón lá để nâng cao năng suất, chất lượng lạc.

1.5- Chăn nuôi lợn

Nhiệm vụ:

Chăn nuôi lợn phát triển theo hướng tăng tỷ trọng đàn lợn siêu nạc. Phấn đấu đến 2010, đàn lợn của tỉnh đạt 1,3 triệu con. Trong đó, 60% tổng đàn có tỷ lệ nạc trên 50%. Sản lượng thịt hơi đạt 105 nghìn tấn, chiếm 72% tổng sản lượng thịt.

Biện pháp thực hiện:

Đến đầu năm 2007, đưa trại giống lợn ngoại ông bà (với 150 con, đặt tại Cao Xá, huyện Tân Yên) vào hoạt động để cung cấp giống lợn ngoại bố mẹ cho các địa phương, nhằm đưa đàn lợn nái của tỉnh lên 300 ngàn con, trong đó, có 60% là lợn nái ngoại và có máu ngoại để thực hiện nạc hóa đàn lợn.

Phát triển các gia trại, trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi lợn từ 120 cơ sở (năm 2005) lên trên 500 cơ sở vào năm 2010, với quy mô của mỗi cơ sở từ 100 con trở lên/lứa. Tập trung phát triển ở các vùng trọng điểm là Hiệp Hòa, Việt Yên, Tân Yên, Yên Dũng, Lục Nam, Lạng Giang. Khuyến khích phát triển kinh tế trang trại theo hướng sản xuất kinh doanh tổng hợp (trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản).

Quản lý tốt con đực giống, mở rộng mạng lưới thụ tinh nhân tạo. Giải quyết tốt công tác phòng trừ dịch bệnh và kiểm dịch thú y. Xây dựng các vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh, gắn với các cơ sở giết mổ, chế biến theo tiêu chuẩn quy định.

Tăng cường hình thức liên doanh, liên kết, gia công sản phẩm trong chăn nuôi nhằm tranh thủ nguồn vốn, kỹ thuật sản xuất và bảo đảm ổn định "đầu ra" cho sản phẩm. Hỗ trợ đầu tư xây dựng các lò mổ tập trung và xây dựng các hệ thống kho bảo quản theo chính sách phát triển chăn nuôi của tỉnh.

1.6- Chăn nuôi bò

Nhiệm vụ:

Phấn đấu đến 2010, tổng đàn bò của tỉnh đạt 135 nghìn con, tăng 35 nghìn con so với năm 2005. Tập trung phát triển đàn bò thịt theo hướng tăng trọng lượng và nâng cao chất lượng thịt.

Vùng trọng điểm phát triển đàn bò thịt tập trung ở các huyện: Hiệp Hòa, Yên Dũng, Lạng Giang, Tân Yên, Việt Yên, Lục Nam.

Biện pháp thực hiện:

Cải tạo đàn bò nái, đưa tỷ lệ đàn bò nái lai Zêbu lên 30% tổng đàn bò nái, nhằm đưa tỷ lệ đàn bò lai Zêbu chiếm 50-60%.

Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ giá tinh nhân tạo và hỗ trợ giá thay đàn bò nái nội bằng đàn bò nái ngoại và nái lai.

Quy hoạch vùng trồng cỏ thâm canh làm thức ăn chăn nuôi bò.

2- Lâm nghiệp

Nhiệm vụ:

Trong giai đoạn 2006-2010: Sản xuất 12-13 nghìn ha rừng kinh tế với lượng sản phẩm hàng hoá đạt 400-500 nghìn m3 gỗ, trong đó: 95% sản lượng là gỗ nhỏ phục vụ sản xuất bột giấy, ván nhân tạo, trụ mỏ; 5% sản lượng là gỗ lớn phục vụ chế biến, sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Tập trung tại các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế.

Biện pháp thực hiện:

Rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo hướng tăng diện tích rừng kinh tế, giảm diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng. Xây dựng vùng trồng rừng nguyên liệu tập trung, thực hiện việc cải tạo rừng kém chất lượng theo quy hoạch.

100% diện tích rừng kinh tế sử dụng giống chất lượng cao; trên 70% diện tích áp dụng phương thức trồng rừng thâm canh. Nâng diện tích trồng rừng gỗ lớn lên 20% tổng diện tích trồng rừng kinh tế.

Thu hút và quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế rừng.

Thực hiện ký kết hợp đồng với các bạn hàng truyền thống như Công ty than Quảng Ninh, Nhà máy chế biến gỗ Cầu Đuống và các nhà máy chế biến gỗ mới đi vào hoạt động như: Nhà máy ván dăm Cái Lân, Quảng Ninh; Nhà máy ván ghép thanh Bắc Giang…

Thực hiện tốt chính sách hỗ trợ trồng rừng kinh tế, chính sách đầu tư tín dụng cho phát triển lâm nghiệp.

3- Thủy sản

Nhiệm vụ:

Tập trung khai thác triệt để diện tích mặt nước đưa vào nuôi thủy sản theo hình thức nuôi thâm canh và bán thâm canh với các giống cá có năng suất cao, chất lượng tốt. Tập trung xây dựng các vùng nuôi cá hàng hoá thâm canh cao.

Diện tích nuôi thủy sản là 11 nghìn ha, sản lượng 20 nghìn tấn. Các sản phẩm hàng hóa chủ yếu là cá thịt, cá giống và con thủy đặc sản.

Xây dựng vùng trang trại nuôi cá thịt hàng hóa tập trung với diện tích khoảng 4 nghìn ha tại các địa bàn: Thành phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang, Yên Dũng, Việt Yên, Hiệp Hòa, Tân Yên, Lục Nam (bình quân diện tích mỗi trang trại từ 3 ha trở lên, năng suất đạt bình quân từ 3,5-4,0 tấn/ha). Tại các địa bàn đó, chọn ra một số trang trại nuôi cá thịt có điều kiện tốt để đầu tư xây dựng thành vùng nuôi cá thịt hàng hoá tập trung, thâm canh cao (diện tích từng trang trại từ 5 ha trở lên, năng suất từ 8-10 tấn/ha) với tổng diện tích khoảng 400 ha.

Xây dựng vùng nuôi thủy đặc sản tập trung ở thành phố Bắc Giang và các huyện: Yên Dũng, Tân Yên, Việt Yên, Lạng Giang, Lục Nam. Chủ yếu là các loài ba ba, ếch lai, tôm. Phấn đấu đạt sản lượng 600 tấn.

Biện pháp thực hiện:

Củng cố vùng sản xuất cá giống tại các huyện: Lạng Giang, Hiệp Hòa, Việt Yên, Tân Yên với tổng số 14 trại. Trong đó, Trung tâm Giống thủy sản cấp I là nơi lưu giữ cá giống "ông bà" và sản xuất cá giống "bố mẹ" cho các cơ sở sản xuất cá giống khác. Phấn đấu đến hết năm 2008, các cơ sở sản xuất cá giống thực hiện đăng ký chất lượng sản phẩm, thay đàn cá “bố mẹ” đã thoái hóa, kém chất lượng, đưa các giống cá có năng suất và giá trị kinh tế cao vào sản xuất như: Chép lai 3 máu, Chim trắng, Rô phi đơn tính.

Tăng cường tập huấn khoa học kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật thâm canh trong nuôi cá cho nông dân. Xây dựng các dự án và chính sách khuyến khích nuôi thủy sản đặc sản hàng hoá tập trung thâm canh cao.

III- MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHUNG

1- Thực hiện tốt công tác quy hoạch

Trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh đến năm 2020; tiếp tục cụ thể hoá thành các quy hoạch phân vùng từng loại cây trồng, vật nuôi và lập các dự án đầu tư cho các vùng sản xuất cây, con hàng hoá (yêu cầu cụ thể đến từng vùng, từng xứ đồng trong các xã); quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trung trên địa bàn các huyện để phòng trừ hiệu quả dịch bệnh và bảo vệ môi trường.

Xây dựng quy hoạch cơ điện phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá để làm cơ sở đưa cơ giới hoá, điện khí hoá vào phục vụ sản xuất nông nghiệp, tạo ra bước đột phá về năng suất lao động và giải phóng sức lao động trong nông nghiệp.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác dồn điền, đổi thửa; chuyển đổi 5 nghìn ha đất trồng lúa năng suất thấp sang trồng cây công nghiệp ngắn ngày, trồng cỏ chăn nuôi và sang nuôi thuỷ sản; trong đó, chuyển 2,9 nghìn ha đất ruộng trồng lúa năng suất thấp sang trồng cây công nghiệp ngắn ngày, rau, hoa cây cảnh, trồng cỏ phục vụ chăn nuôi và chuyển 2,1 nghìn ha đất ruộng trũng sang nuôi thuỷ sản.

Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về tổ chức thực hiện theo quy hoạch.

2- Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất

Củng cố và đầu tư để các cơ sở sản xuất, cung ứng giống có đủ khả năng tiếp nhận và nhân giống tại địa phương bằng những giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp hàng hoá.

Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học; áp dụng quy trình công nghệ tiên tiến, để đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định về chất lượng sản phẩm của thị trường xuất khẩu.

Tập trung đầu tư tiến bộ kỹ thuật vào các khâu bảo quản sau thu hoạch, chế biến. Chú ý áp dụng các loại hình bảo quản có quy mô hợp lý và công nghệ cao.

Tăng cường và phát huy hiệu quả hoạt động của hệ thống khuyến nông, xây dựng các mô hình, áp dụng các công thức luân canh cây trồng hiệu quả kinh tế cao; đẩy mạnh phong trào xây dựng cánh đồng đạt và vượt 50 triệu đồng/ha/năm và hộ có thu nhập 50 triệu đồng/năm.

3- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp và triển khai thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm

Tăng cường đầu tư các cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp như thú y, bảo vệ thực vật, kho bảo quản nông sản…; các hệ thống thuỷ lợi như: cải tạo, nâng cấp hệ thống thuỷ nông Cấm Sơn - Cầu Sơn, Nam Yên Dũng, đập hồ Sông Sỏi, chùm hồ Lục Ngạn… Nâng hiệu quả tưới tiêu đạt 80% công suất thiết kế.

Tiếp tục đầu tư các chương trình, dự án đang triển khai xây dựng và thực hiện một số dự án mới như:

- Dự án cải tạo, thâm canh nâng cao chất lượng vườn cây ăn quả hàng hoá.

- Dự án bảo quản vải sau thu hoạch.

- Dự án đầu tư xây dựng các vùng rau hàng hoá và rau chế biến.

- Dự án đầu tư xây dựng các vùng khoai tây hàng hoá chất lượng cao.

- Dự án phát triển vùng chăn nuôi bò thịt, lợn hướng nạc tập trung.

- Dự án tập trung thâm canh cao nuôi cá thịt hàng hoá.

- Dự án trồng rừng kinh tế.

- Đầu tư xây dựng cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, kết hợp xây dựng kho đông lạnh quy mô nhỏ.

4- Củng cố quan hệ sản xuất và xây dựng các chính sách phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hoá

- Củng cố quan hệ sản xuất:

Sớm hoàn thành việc chuyển đổi hoạt động của các nông, lâm trường sang mô hình công ty, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và pháp luật của Nhà nước để có hiệu quả, trở thành trung tâm dịch vụ khoa học- kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nông nghiệp, nông thôn; nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp, để làm tốt chức năng là cầu nối cung cấp dịch vụ "đầu vào" và chế biến, tiêu thụ nông sản cho nông dân; phát triển mạnh kinh tế trang trại, gia trại.

Coi trọng và tăng cường công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp (giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp...), chất lượng sản phẩm, an toàn dịch bệnh, chất lượng xây dựng hạ tầng nông nghiệp, nông thôn.

- Xây dựng các chính sách phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hoá:

Tiếp tục hoàn thiện các chính sách đã có; bổ sung một số chính sách mới như:

+ Chính sách hỗ trợ cải tạo và thâm canh cây vải, cây công nghiệp ngắn ngày, cây rau thực phẩm.

+ Chính sách đầu tư và hưởng lợi từ việc chuyển rừng phòng hộ sang phát triển rừng kinh tế.

+ Chính sách khuyến khích đầu tư nuôi thuỷ sản hàng hoá thâm canh cao.

+ Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

+ Chính sách trợ giá, trợ cước sản xuất một số sản phẩm ở những vùng trọng điểm của Chương trình.

5- Phát triển thị trường

Khuyến khích xây dựng các chợ trung tâm cụm xã, các chợ trung tâm huyện, chợ đầu mối nông sản theo quy hoạch đã được phê duyệt ở các vùng sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi hàng hóa tập trung để tổ chức thu mua nông, lâm sản, tạo điều kiện cho các hộ gia đình phát triển sản xuất ổn định.

Xây dựng các kênh thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế tham gia tìm kiếm thị trường, giới thiệu sản phẩm và tham gia vào việc xuất khẩu nông sản.

Xây dựng và sử dụng có hiệu quả các thương hiệu hàng hoá nông, lâm, thuỷ đặc sản riêng biệt của Bắc Giang. Xây dựng các trang thông tin điện tử để giới thiệu, quảng bá các mặt hàng nông sản thực phẩm của tỉnh.

Thực hiện việc gắn kết trách nhiệm giữa cơ sở chế biến nông, lâm sản với các hộ nông dân trong việc xây dựng vùng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm theo tinh thần Quyết định số 80/CP của Thủ tướng Chính phủ.

6- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước

Tăng cường vai trò lãnh đạo, gắn với trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, nhất là cơ sở đảng ở nông thôn, của chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân các cấp, để tổ chức chỉ đạo thực hiện Chương trình.

UBND các cấp có trách nhiệm triển khai cụ thể các kế hoạch, thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc các ngành chức năng tổ chức thực hiện.

7- Tuyên truyền vận động

Các cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về tính cấp thiết của việc phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá và những nội dung cơ bản của Chương trình để thống nhất thực hiện trong tỉnh.

Xây dựng các mô hình sản xuất hàng hoá tại chỗ, phù hợp với điều kiện của địa phương, để tăng tính thuyết phục. Tổ chức các hội nghị, hội thảo đầu bờ theo từng chuyên đề cụ thể, nhằm nâng cao trình độ sản xuất hàng hoá cho nông dân.

8- Nguồn lực phát triển

Nguồn nhân lực: Tăng cường công tác đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật các cấp từ tỉnh đến cơ sở, đặc biệt là đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở. Bảo đảm có biên chế cán bộ phụ trách chăn nuôi thuỷ sản tại các phòng nông nghiệp huyện, thành phố. Mở các lớp dạy nghề và tập huấn cho nông dân các kiến thức về quản lý sản xuất, khoa học- kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp hàng hoá.

Vốn đầu tư (chỉ tính các dự án trực tiếp của Chương trình, không tính đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuỷ lợi…):

- Dự kiến đầu tư cho 16 dự án trên các lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản với tổng vốn 529 tỷ đồng, trong đó: trồng trọt 6 dự án, 188 tỷ đồng; chăn nuôi 6 dự án, 136 tỷ đồng; lâm nghiệp 1 dự án, 164 tỷ đồng; thuỷ sản 1 dự án 34 tỷ đồng; các dự án khác 7 tỷ đồng.

- Phân theo nguồn vốn: Vốn ngân sách tỉnh 154 tỷ đồng, vốn tự có của dân và các nguồn khác 375 tỷ đồng.


C- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1- Ban cán sự đảng UBND tỉnh căn cứ Chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, giai đoạn 2006-2010; chỉ đạo tiếp tục xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án nhằm cụ thể hoá để tổ chức thực hiện. Chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp chặt chẽ, thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra. Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình sản xuất nông nghiệp hàng hoá của tỉnh do đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh phụ trách khối làm Trưởng Ban, thành viên Ban Chỉ đạo là giám đốc một số sở, ban, ngành liên quan; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm Thường trực Ban Chỉ đạo.

2- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm chính trong việc phối hợp với các cấp, các ngành liên quan để tham mưu cho Tỉnh uỷ, UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá giai đoạn 2006-2010 của tỉnh. Nghiên cứu, tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để thực hiện thành công Chương trình. Định kỳ 6 tháng, 1 năm, tham mưu cho UBND tỉnh sơ kết việc chỉ đạo thực hiện Chương trình, gắn với việc kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của địa phương; hoặc sơ kết riêng về tình hình, kết quả thực hiện Chương trình, theo sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và UBND tỉnh.

3- Các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị làm tốt việc triển khai thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của Chương trình có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của ngành, đơn vị mình; định kỳ 6 tháng, báo cáo kết quả thực hiện cho cơ quan chủ trì để tổng hợp báo cáo Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và UBND tỉnh. Sở Kế hoạch & Đầu tư chủ trì phối hợp Sở Tài chính cân đối và bố trí nguồn vốn đầu tư để thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình.

4- Các huyện uỷ, thành uỷ căn cứ nội dung Chương trình của tỉnh và đặc điểm tình hình, điều kiện thực tiễn của địa phương; xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể để tổ chức thực hiện. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan cùng cấp và các địa phương, cơ sở xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện cụ thể tới từng thôn, bản.

5- Các ban, cơ quan của Tỉnh uỷ, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tỉnh có kế hoạch cụ thể về tổ chức thực hiện Chương trình trong phạm vi cơ quan, đơn vị và ngành mình. Đồng thời, tích cực phối hợp với các cơ quan chủ trì để thực hiện tốt Chương trình. Trong đó, Ban Dân vận Tỉnh uỷ phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân làm tốt công tác vận động quần chúng đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, tập trung thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá; tham gia, phối hợp với các ngành, địa phương trong tổ chức thực hiện các chương trình kinh tế- xã hội, giám sát việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

6- Các cơ quan thông tin đại chúng: Báo Bắc Giang, Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh, đài truyền thanh các huyện, thành phố thường xuyên tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của địa phương về phát triển nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng các chuyên mục tuyên truyền, phổ biến về các chủ trương, chính sách, kỹ thuật, kinh nghiệm... phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn phát triển. Kịp thời động viên các nhân tố mới, phê phán, uốn nắn những lệch lạc, thiếu sót trong quá trình tổ chức thực hiện.

7- Giao Ban cán sự đảng UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, thường xuyên phối hợp với Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Văn phòng Tỉnh uỷ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện Chương trình này; định kỳ báo cáo với Ban Thường vụ Tỉnh uỷ./.

Thêm một tài liệu vào blog hoặc website của bạn

liên quan:

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010 iconCHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP, TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP VÀ NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN TỈNH, GIAI ĐOẠN 2006-2010

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010 iconQUYẾT ĐỊNH Phê duyệt Chương trình Phát triển công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn tỉnh Quảng Bình, giai đoạn 2006 2010

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010 iconCHƯƠNG TRÌNH Phát triển sản xuất, xuất khẩu giai đoạn 2006-2010

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010 iconQUYẾT ĐỊNH Về việc ban hành Chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Khánh Hòa, giai đoạn 2006 2010

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010 iconChương trình phát triển Khu, cụm, tuyến công nghiệp và làng nghề tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2006 2010

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010 iconNghị quyết số 03-NQ/TU của Tỉnh uỷ (khoá XIV) về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006 2010, định hướng đến năm 2020

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010 iconCHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2010 Mã số: 04-05-KHKT-RD HÀ NỘI 12 2005

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010 iconNghị quyết 03/NQ-TU về phát triển nông nghiệp-nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-2010, định hướng đến 2020

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010 iconNghị quyết 03 TU về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006 2010 định hướng đến năm 2020

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010 iconChương trình hành động của Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006 2010

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương