“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện ĐH VIII Trang




tải về 0.85 Mb.
Tên“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện ĐH VIII Trang
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu08.09.2012
Kích0.85 Mb.
loạiTài liệu
1   2   3

3. Những giải pháp cơ bản để thực hiện quan điểm của Đảng:

Ngày nay, nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế, đứng trước xu thế toàn cầu hóa, trong khi nền kinh tế nước ta còn thấp kém so với một số nước trong khu vực và trên thế giới. Để văn hóa phát huy đúng nghĩa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH, cần có những biện pháp:

Một là, mở rộng, vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, bằng nhiều hình thức phong phú. Phát động phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa, hướng vào cuộc thi đua yêu nước vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Hai là, Nhà nước cần ban hành các luật, chính sách về phát triển văn hóa dân tộc ở trên các lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội. Hoàn chỉnh các quy chế, quy định về tổ chức và hoạt động lễ hội, việc tang, việc cưới, cúng điếu phù hợp với giá trị văn hóa truyền thống. Từng bước xây dựng các chuẩn mực văn hóa mới ở cơ sở. Khuyến khích, huy động mọi nguồn lực, nhất là các nguồn lực trong nhân dân nhằm phát triển nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Có chính sách bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, đặc biệt lưu ý sưu tầm, lưu truyền nền văn hóa phi vật thể. Xây dựng chính sách đặc thù phù hợp, khuyến khích các hoạt động văn hóa, như chế độ nhuận bút cũng như cách đánh giá các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật trong tình hình mới. Ban hành chính sách cụ thể về hợp tác quốc tế về văn hóa.

Ba là, tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa. Tăng cường mức chi cho hoạt động văn hóa từ nguồn ngân sách nhà nước, cả về chi thường xuyên và chi cho phát triển văn hóa. Nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo quản lý và nghiệp vụ ở các cơ quan quản lý văn hóa. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy cán bộ các cơ quan quản lý văn hóa; các trường, khoa đào tạo về văn hóa

Bốn là, nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa. Trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước ngày nay, yêu cầu Đảng ta phải tăng cường nâng cao vai trò lãnh đạo trên lĩnh vực văn hóa. Nhận thức đúng đắn về vai trò văn hóa cần làm tốt hơn nữa công tác bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Các tổ chức cơ sở Đảng cần thực hiện thường xuyên việc giáo dục lý tưởng cách mạng, về chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, các đường lối chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước cho cán bộ, đảng viên.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, theo hướng nắm bắt được các nhu cầu văn hóa lành mạnh của quần chúng, nhằm định hướng đúng cho các hoạt động văn hóa từ khâu nhận thức, sáng tạo, bảo quản, đến phổ biến, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa của giới văn nghệ sĩ và quần chúng nhân dân. Không ngừng mở rộng dân chủ để phát huy vai trò các hoạt động sáng tạo và tiêu dùng văn hóa trong nhân dân.

Năm là, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa. Nhà nước thể chế hóa đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng bằng các văn bản pháp quy. Và quản lý Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật để điều tiết các hoạt động văn hóa, văn nghệ. Tăng cường giám sát, kiểm tra tất cả các hoạt động liên quan đến văn hóa, văn nghệ. Ngăn ngừa, đối phó với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đang tìm cách thẩm thấu, du nhập các loại văn hóa độc hại, đồi trụy vào các thế hệ người Việt Nam ta hôm nay.

Tóm lại, xác định văn hóa là nền tảng của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH, một mặt đánh giá cao vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa; mặt khác, cũng để khẳng định một chân lý là chỉ có đặt văn hóa trong sự phát triển, gắn văn hóa với sự phát triển, nghĩa là văn hóa phải bén rễ trong kinh tế thì kinh tế mới phát triển được. Sự nghiệp văn hóa, suy cho cùng là vì con người, như nhận định của Đảng ta: Nhiệm vụ trung tâm của sự nghiệp văn hóa là bồi dưỡng con người Việt Nam về trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, nhân cách, xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan XHCN, hướng con người tới những giá trị Chân - Thiện – Mĩ. Vì vậy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cần coi trọng chính sách đầu tư cho văn hóa, đầu tư cho con người, khuyến khích và tạo điều kiện để nhân dân tham gia phát triển và sáng tạo văn hóa, đồng thời hưởng thụ văn hóa ngày càng nhiều hơn./.


Câu hỏi 4 : Vận dụng hiểu biết về lý luận và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, hãy phân tích vì sao Nghị quyết hội nghị TW 5 xác định “Nền văn hóa của ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" ?

Bài làm

Như chúng ta đã biết, đời sống xã hội có 2 mặt : vật chất và tinh thần, nếu kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội thì văn hóa là nền tảng tinh thần của nó. Với cách diễn đạt như vậy, văn hóa rõ ràng vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển KTXH. Xác định đường lối chiến lược về phát triển văn hóa của nước ta trong giai đoạn hiện nay, Nghị quyết hội nghị TW 5 khóa VIII đã xác dịnh : nền văn hóa của ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” . Đây là một nội dung quan trọng của Đảng và nhân dân ta trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay.

Vậy văn hóa là gì? Theo định nghĩa của ông Federico Mayor, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, văn hóa là “tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.

1. Giải thích thế nào là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc - Mối quan hệ giữa tính chất này (tiên tiến với đậm đà bản sắc dân tộc)

Vậy như thế nào là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ? Có rất nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề thế nào “bản sắc dân tộc” của nền văn hóa ? Có ý kiến cho rằng nói đến bản sắc dân tộc của nền văn hóa chính là nói đến một nền văn hóa có gốc rễ, cội nguồn dân tộc. Có ý kiến cho rằng nói bản sắc văn hóa dân tộc thực chất là nói đến “thẻ căn cước” của một dân tộc, nó chỉ rõ dân tộc ấy là ai, những truyền thống gì do dân tộc tạo nên và đã thâm nhập vào tâm hồn của dân tộc, đươc nhân dân nuôi dưỡng và thường xuyên bồi bổ, phát triển trong đời sống của mình. Theo ý kiến này, bản sắc dân tộc của văn hóa khẳng định sự tồn tại của dân tộc, phân biệt sự khác nhau giữa các dân tộc và nó biểu hiện tính độc đáo của dân tộc.

Theo Hiến pháp sửa đổi (1993) thì nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc tức là nền văn hóa mang đầy đủ các nội dung về yếu tố dân tộc, dân chủ, nhân văn và hiện đại. Tính dân tộc thể hiện qua 3 khía cạnh : là nền văn hóa có cội nguồn, gốc rễ dân tộc, phát triển dựa trên điều kiện sức mạnh của dân tộc và phát triển luôn luôn vì lợi ích dân tộc, vì hạnh phúc, phồn vinh của dân tộc. Tính dân chủ được biểu hiện thông qua sự mở rộng và phát triển dân chủ để khẳng định chủ thể của nền văn hóa thuộc về nhân dân, để khai thác triệt để tiềm nặng văn hóa dân tộc, phát hiện và phát triển những tài năng văn hóa. Tính nhân văn của nền văn hóa biểu hiện sự trân trọng những giá trị của con người, nền văn hóa thấm nhuần những giá trị nhân đạo sâu sắc và phát triển nhấn mạnh quy luật quan hệ nhân tính, khẳng định vai trò văn hóa ở con người, khoan dung và mang nặng tính người. Tính hiện đại của nền văn hóa thể hiện qua việc phát triển nền văn hóa dựa trên cơ sở vật chất ngày càng hiện đại, dựa trên khoa học - công nghệ hiện đại và phục vụ cho việc đào tạo, giáo dục con người theo hướng hiện đại, phát triển dựa trên tư tưởng tiến bộ xã hội.

Như vậy, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là một nền văn hóa có bản lĩnh và chứa đựng tâm hồn của dân tộc. Theo quan điểm của Đảng tại Hội nghị BCH TW 5 khóa VIII (7/1998), những nội dung của nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc được biểu hiện qua những đặc trưng sau đây :

a. Nền văn hóa tiên tiến :

Nền văn hóa tiên tiến phải được hiểu : Đó là nền văn hóa yêu nước và tiến bộ xã hội mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là nền văn hóa mang tinh thần dân chủ, nền văn hóa mà trong đó dân chủ là yếu tố làm thay đổi nhiều mặt của đời sống văn hóa dân tộc, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển văn hóa, tạo động lực cho sự phát triển tài năng, nhu cầu sáng tạo của quần chúng nhân dân. Đó là nền văn hóa mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, phản ánh mối quan hệ hài hòa giữa con người và con người, giữa con người với tự nhiên, phát triển vì sự phát triển toàn diện và hạnh phúc của con người. Đó là nền văn hóa mang tính hiện đại về trình độ dân trí, khoa học, công nghệ ... Nền văn hóa tiên tiến không chỉ trong nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung. Tóm lại, nền văn hóa tiên tiến có thể được cụ thể hóa bằng những khía cạnh cơ bản như sau: tiên tiến về trình độ học vấn, về dân trí, về trình độ khoa học và công nghệ; tiên tiến về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống; tiên tiến do sự kết hợp giữa hiện đại và truyền thống, cả về hình thức và về nội dung. Nền văn hóa tiên tiến Việt Nam còn là sự kết hợp truyền thống dân tộc với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

b. Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

Nền văn hóa tiên tiến cũng là nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Tính chất dân tộc luôn luôn gắn bó với tính chất tiên tiến của nền văn hóa và hai mặt này liên quan biện chứng với nhau.

Bản sắc văn hóa của một dân tộc là những đặc trưng về văn hóa, về đời sống tinh thần dân tộc ấy, là những nét đặc biệt, độc đáo về tinh thần, về văn hóa, về cách sống và sức sáng tạo để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Mất bản sắc văn hóa dân tộc tức là dân tộc đã bị đồng hóa chỉ còn lại cái vỏ bề ngoài. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là hạt nhân của tinh thần sáng tạo của dân tộc, truyền từ đời này sang đời khác, được làm giàu thêm bằng kinh nghiệm cuộc sống và sự sáng tạo của các thế hệ. Đó là truyền thống được tạo ra và hun đúc trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc.

Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được thể hiện qua các mặt như sau :

- Đó là nền văn hóa bao gồm sự thống nhất trong tính đa dạng và phong phú của nền văn hóa của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, của các vùng, các địa phương trong nước. Văn hóa Việt Nam là thành quả của tất cả các dân tộc Việt Nam trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước. Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, khi tất cả hội nhập nền văn hóa cộng đồng dân tộc Việt Nam thì nó trở nên hết sức phong phú đa dạng.

- Đó là nền văn hóa mà tính phong phú đa dạng được nhân lên gấp nhiều lần do có bề dày hàng nghìn năm lịch sử và được trãi nghiệm qua các cuộc đấu tranh dựng nước và giải phóng đất nước.

- Bản sắc văn hóa dân tộc còn biểu hiện cụ thể ở những giá trị văn hóa bền vững của dân tộc Việt Nam, là tổng hợp các giá trị tinh thần tiêu biểu của dân tộc, bao gồm 6 giá trị : Một là tinh thần yêu nước, yêu quê hương nồng nàn. Hai là tinh thần đoàn kết dân tộc. Ba là tính cộng đồng gắn kết giữa cá nhân, gia đình, quê hương, tổ quốc. Bốn là tinh thần nhân nghĩa, nhân ái thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc của con người Việt Nam : sống có tình nghĩa, thủy chung trong gia đình, với làng xóm, với cộng đồng, yêu thương quý trọng con người, tinh thần trọng lẽ phải, trọng đạo đức, học thức, yêu cái đẹp, cái hay. Năm là tinh thần lao động cần cù sáng tạo của nhân dân ta. Sáu là lối sống tinh tế, khiêm tốn, giản dị và trung thực của con người Việt Nam, sự tế nhị trong tâm hồn, trong phong cách giao tiếp. Trong 6 giá trị tinh thần của dân tộc ấy, qua các thời đại lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, yêu nước đã trở thành một giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc và chủ nghĩa yêu nước đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả tiến trình lịch sử và văn hóa Việt Nam. Nó trở thành giá trị cao nhất trong các thang bậc giá trị văn hóa Việt Nam và là một động lực cực kỳ to lớn. Chính vì vậy, nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc trước hết là nền văn hóa yêu nước. Có thể nói yêu nước và tiến bộ vừa là đặc trưng bao quát nhất của nền văn hóa tiên tiến, vừa là đặc trưng của bản sắc dân tộc.

Nói nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam cũng là nói về các hoạt động văn hóa, sinh hoạt văn hóa, sáng tạo văn hóa, tác phẩm văn hóa phải thể hiện rõ nét và sâu sắc các giá trị tinh thần của dân tộc. Những giá trị ấy dến nay còn được lưu lại và giữ gìn trong nhân dân, trong xã hội qua các di sản lịch sử và văn hóa.

Tuy nhiên, cần phải thấy rằng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc này chỉ có thể phát triển bền vững và phát huy đầy đủ bản sắc của nó trên cơ sở tiếp thu được những tinh hoa trí tuệ của loài người, nền văn hóa tiên tiến phải là nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc nhưng không thể tách khỏi quan hệ với thế giới. Bởi xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra là tất yếu xu thế đó là khách quan, mang tính thời đại, trước hết trong lĩnh vực kinh tế, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, không một quốc gia có thể đứng biệt lập mà có thể tồn tại và phát triển. Mặt khác, phải nhận thức được rằng toàn cầu hóa là một quá trình đầy mâu thuẩn, phức tạp, mặt tất yếu kỹ thuật, kinh tế là mặt tích cực có lợi ta phải tận dụng, song cũng không thể bỏ qua mặt xã hội kinh tế, mặt bản chất giai cấp của quá trình toàn cầu hóa

2. Cơ sở lý luận và thực tiễn :

Việc xây dựng đường lối phát triển một văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng được dựa trên nền tảng cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc .

a. Về cơ sở lý luận.

Đường lối của Đảng về phát triển văn hóa và xây dựng con người mới XHCN trước hết xuất phát từ những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới và từ thực trạng văn hóa và con người Việt Nam với cả hai mặt mạnh, yếu hiện có. Đường lối đó phải tính đến sự giao lưu vô cùng phức tạp của văn hóa và con người Việt Nam với nhiều dân tộc, nhiều lớp người, nhiều nền văn hóa khác nhau trong thế giới hiện đại, khi hội nhập kinh tế thế giới đã trở thành một quá trình tất yếu mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài. Đặc biệt quan trọng là đường lối văn hóa của Đảng xuất phát từ một nền tảng tư tưởng nhất định, đó là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ trên cơ sở đó, Đảng ta mới xác định được những quan điểm, phương hướng, chiến lược đúng đắn, tìm ra được những biện pháp thích hợp để phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam.

Chúng ta biết, văn hóa là hoạt động tinh thần, thuộc về ý thức của con người, nghĩa là văn hóa là một lĩnh vực thuộc về kiến trúc thượng tầng. Vì vậy sự phát triển của văn hóa chịu sự quy định của cơ sở kinh tế bởi theo chủ nghĩa Mác Lênin thì cơ sở hạ tầng (kinh tế) quyết định kiến trúc thượng tầng – mà văn hóa là một lĩnh vực thuộc về kiến trúc thượng tầng. Tách rời khỏi cơ sở kinh tế sẽ không hiểu được nội dung, bản chất của văn hóa. Muốn phát triển văn hóa phải phát triển kinh tế vì kinh tế là nền tảng của phát triển; kinh tế tạo nên cơ sở vật chất - kỹ thuật cho xã hội và vì vậy nó cũng là tiền đề để phát triển văn hóa.

Từ sau cách mạng tháng Tám, văn hóa đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là đời sống tinh thần, là thuộc về kiến trúc thượng tầng của xã hội. Văn hóa được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của xã hội, Người viết: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng”. Bốn vấn đề đó có quan hệ mật thiết với nhau, cùng tác động lẫn nhau, được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ bằng những luận điểm: một là chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng, chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển. Hai là xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hóa. Phải đẩy mạnh xây dựng kinh tế trước.

Song, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: kinh tế là thuộc về cơ sở hạ tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa, xây dựng kiến trúc thượng tầng; Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng, nhưng cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi văn hóa mới kiến thiết được và có đủ điều kiện phát triển được.

Nói đến văn hóa tức là nói đến con người. Nói một cách khái quát thì con người vừa là chủ thể, lại vừa là sản phẩm của văn hóa. Không thể nói đến văn hóa mà không có con người, cũng như không thể nói đến con người tách rời văn hóa. Bởi văn hóa chính là hoạt động tinh thần nhằm phát huy năng lực bản chất người để sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần dựa trên các chuẩn mực chân, thiện, mĩ. Nhằm để duy trì sự tồn tại và phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội. Theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, con người không phải là một cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội. Theo Lênin, cách mạng văn hóa là một bộ phận của cách mạng XHCN và có ý nghĩa quan trọng – nó nói lên bản chất tiến bộ của cách mạng xã hội XHCN. Cách mạng văn hóa là một quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng CNXH bởi vì cách mạng văn hóa là một bộ phận của cách mạng xã hội chủ nghĩa, như Lênin đã từng khẳng định : giai cấp công nhân sau khi đã hoàn thành cách mạng thì khâu cuối cùng có xây dựng được CNXH hay không là tùy thuộc vào cuộc cách mạng văn hóa

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Hồ Chí Minh đã từng viết : “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn văn hóa như là phương thức để con người tồn tại và phát triển, nhấn mạnh đến mối quan hệ biện chứng giữa “sản sinh” văn hóa với sự sinh tồn của con người.

Tư tưởng xây dựng một nền văn hóa mới Việt Nam được đặt ra ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy con đường cứu nước là con đường cách mạng vô sản, khi Người đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, khi mục tiêu lý tưởng không phải chỉ có độc lập dân tộc mà còn là chủ nghĩa xã hội. Trong tư tưởng văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền văn hóa mới Việt Nam khác với nền văn hóa cũ trước hết ở những tính chất cơ bản của nó. Đó là tính dân tộc, khoa học và đại chúng. Điều này thể hiện rất rõ trong Đề cương văn hóa Việt Nam, năm 1943. Tính chất dân tộc của nền văn hóa mới thực chất là vấn đề kế thừa truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, kết hợp chặt chẽ với việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tính chất dân tộc của nền văn hóa mới còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu đạt bằng những khái niệm khác như đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc để nhấn mạnh hơn nữa đến cái tinh túy bên trong rất đặc trưng của văn hóa dân tộc Việt Nam.

Trong hội nghị văn hóa toàn quốc lần đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, ngày 24-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: Văn hóa phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, dự do. Đồng thời văn hóa phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng. Người thường nói phải làm thế nào cho văn hóa đi sâu vào tâm lý quốc dân để xây dựng những tình cảm lớn như lòng yêu nước, tình yêu thương con người; yêu tính trung thực, chân thành, thủy chung; ghét những thói hư tất xấy, những sa đọa biến chất, căn thù mọi thứ “giặc nội xâm”… Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Để làm được điều đó, Người nói văn hóa phải được xác định là một mặt trận, mà các anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy.

Đường lối văn hóa của Đảng ta luôn xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng luôn coi trọng công tác văn hóa, xác định công tác văn hóa là một bộ phận của cách mạng Việt Nam. Quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa là nhất quán và có luông có những đặc điểm, tính chất phù hợp với từng thời kỳ lịch sử cách mạng Việt Nam. Có thể chia thành 3 thời kỳ mang những dấu ấn riêng:

- Từ những năm 1930 đến trước Đại hội Đảng lần thứ III (tháng 9/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chủ trương xây dựng một nền văn hóa mới Việt Nam, và được đặt ra như một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Với hai chiến dịch rộng lớn trong nhân dân: “chiến dịch chống nạn mù chữ” và “chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính” và thực hành đời sống mới. Điểm nổi bật là Đề cương văn hóa năm 1943, với ba tính chất của nền văn hóa mới Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là dân tộc, khoa học, đại chúng. Khi miền Bắc bước vào giai đoạn cách mạng XHCN, để phục vụ sự nghiệp cách mạng XHCN thì văn hóa phải “XHCN về nội dung và dân tộc về hình thức”.

- Từ Đại hội Đảng lần thứ III đến Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 6/1986), khi cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn cách mạng XHCN, quan điểm, đường lối của Đảng là xây dựng nền văn hóa “có nội dung XHCN, tính dân tộc, tính Đảng, tính nhân dân”.

- Từ sau Đại hội VI đến nay, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước trên tất cả các lĩnh vực, trong tư duy và hành động, trong đó có sự đổi mới và phát triển đường lối văn hóa cho phù hợp với thời đại và tiến tới sự hoàn thiện trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cụ thể đến Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991), Đảng ta xác định nền văn hóa mới xây dựng trong XHCN là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong lời phát biểu khai mạc hội nghị lần thứ tư, BCH TW khóa VII, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười nói: mọi sự phát triển xã hội phải “gắn liền với việc kế thừa và phát huy những truyền thống và bản sắc dân tộc. Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ rơi vào nguy cơ tha hóa. Đi vào kinh tế thị trường, hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị truyền thống sẽ làm mất bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc khác”. Đến Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định: xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; và được cụ thể thực hiện bằng Nghị quyết Trung ương năm, khoá VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Đường lối đó là nhất quán cho đến hôm nay.

Tóm lại, đường lối văn hóa của Đảng ta trong các thời kỳ cách mạng luôn nhất quán dựa trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hóa, các nước đều mở cửa giao lưu trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó văn hóa là vấn đề được thế giới quan tâm nhất trong sự phát triển toàn diện và bền vững. Điều đó, đòi hỏi Đảng ta phải có đường lối văn hóa đúng đắn và phù hợp với thời đại, khẳng định được bản sắc con người, dân tộc Việt Nam, đó là sự kế thừa đường lối văn hóa qua các thời kỳ cách mạng của Đảng.
1   2   3

liên quan:

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện ĐH VIII Trang icon“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện ĐH VIII Trang iconTHỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện ĐH VIII Trang iconVề thực trạng và triển vọng phát triển hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam Nga, chú trọng đến các lĩnh vực chính trị, thương mại đầu tư, khoa học công nghệ và nhân văn, trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện ĐH VIII Trang iconTrong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần IV có đoạn viết : “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện ĐH VIII Trang iconThực trạng và một số giải pháp phát triển đào tạo nghề trong lực lượng lao động công nhân và nông dân ở Tỉnh An Giang

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện ĐH VIII Trang iconTăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch ở các nước phát triển và ngày càng tăng ở các nước đang phát triển như nước ta. THA đang trở

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện ĐH VIII Trang iconĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN THỰC TẾ CỦA

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện ĐH VIII Trang icon1. Phát triển nguồn nhân lực – Nhân tố quyết định cho thực hiện mục tiêu tăng trưởng công bằng – PGS. TS. Nguyễn Bá Ngọc

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện ĐH VIII Trang iconNÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG, PHÁT HUY SỨC MẠNH TOÀN DÂN TỘC, ĐẨY MẠNH TOÀN DIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, SỚM ĐƯA NƯỚC TA RA KHỎI TÌNH TRẠNG KÉM PHÁT TRIỂN (Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng)

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện ĐH VIII Trang iconĐồng chí hãy trình bày quan điểm Mác xít về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Ý nghĩa của vấn đề này đối với việc xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở nước ta hiện nay

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương