CNXH HIỆN THỰC




tải về 270.8 Kb.
TênCNXH HIỆN THỰC
trang3/5
Chuyển đổi dữ liệu19.09.2012
Kích270.8 Kb.
loạiTài liệu
1   2   3   4   5

Hai: “Mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” để tạo điều kiện phát triển đất nước đi lên trên con đường CNH-HĐH.

V
3a-4
iệc mở rộng quan hệ đối ngoại được thể hiện bằng việc mở rộng quan hệ song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước XHCN và các nước láng giềng, các nước Asian. Tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển. Thúc đẩy quan hệ đa phương với các nước phát triển và các tổ chức quốc tế. Tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu.

Việc mở rộng quan hệ đối ngoại được thực hiện theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thỗ, không can thiệp vào nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; bình đẳng và cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hòa bình; làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền.

Trên cơ sở đó, việc mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân còn có ý nghĩa là cho phép công dân VN hợp pháp có quyền đối ngoại nếu đảm bảo 3 điều kiện : Một là đối tác mà ta quan hệ không có những hoạt động chống đối nhà nước và nhân dân VN. Hai là đối tác được Nhà nước sở tại cho phép và ba là phải được một công dân VN hợp pháp, một cơ quan, một tổ chức chính thức trong nước bảo lãnh. Đây cũng là 3 điều kiện để kiều dân VN trở về tổ quốc.

Một trong những phương hướng lớn trong đường lối đối ngoại mà Đại hội lần IX của Đảng nhấn mạnh là vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” bắt nguồn từ nhận thức về quá trình toàn cầu hóa với những tác động tích cực và tiêu cực của nó. Từ sự phát triển vượt bật của KHCN, điều kiện SX vật chất đã vượt biên giới quốc gia và khu vực, nền đại công nghiệp tạo ra thị trường thế giới: Chính những yếu tồ đòi hỏi sự hợp tác, phân công lao động ngày càng sâu, nó quy định sự tùy thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng giữa các nước trên thế giới trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế.

Mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế chính là nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ tiếp cận, ứng dụng KH công nghệ kỹ thuật hiện đại, tranh thủ các nguồn vốn, kiến thức quản lý để đầu tư vào sự nghiệp CNH-HĐH làm chuyển biến tích cực. Chính thông qua hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta có điều kiện học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước phát triển, giúp nước ta đi tắt đón đầu trong quá trình phát triển, tiếp nhận ngay những thành tựu KHKT của các nước tiên tiến. Đối với VN nước ta là một nước nghèo, lại bị hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại nên việc đi tắt đón đầu có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp chúng ta vượt nhanh để theo kịp quá trình tốc độ phát triển kinh tế thế giới.

Đại hội X của Đảng (tháng 4-2006) đã khẳng định: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. VN là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực".

Tóm lại, Có thể nói đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta nêu ra là sự tiếp tục của đường lối chính sách đối ngoại đổi mới nhưng ở mức cao hơn. Vì trong quan hệ quốc tế ta đã có bề rộng nay phải đi vào chiều sâu của công tác đối ngoại. Kết quả đối ngoại những năm qua củng cố những bước tiến vững chắc của VN trên con đường đưa phương châm “VN sẳn sàng là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước” ngày càng trở nên hiện thực.

Các hoạt động đối ngoại đã góp phần giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng, đưa đất nước vượt qua những thách thức và đi vào giai đoạn phát triển mới; vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao.

Từ chỗ bị bao vây, cấm vận về kinh tế, cô lập về chính trị, đến nay nước ta đã phát triển quan hệ đa phương, đa dạng với các chủ thể quan hệ quốc tế. Tính đến thời điểm này, VN hiện có quan hệ ngoại giao với 169 nước, quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với 165 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Nước ta hiện là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và khu vực. Đảng ta có quan hệ ở các mức độ khác nhau với trên 200 chính đảng ở các nước trên khắp các châu lục. Các đoàn thể và tổ chức nhân dân ta có quan hệ với hàng trăm tổ chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế.

Nền kinh tế VN ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đang toàn cầu hóa. Chúng ta tích cực tham gia hình thành các khu vực mậu dịch tự do của ASEAN (AFTA), giữa ASEAN và Trung Quốc (CAFTA), xây dựng quan hệ đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản... Ta đã kết thúc đàm phán song phương với 28 nước và gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong năm 2007. Hàng hóa sản xuất tại VN đã có mặt trên 200 thị trường quốc gia, khu vực và quốc tế. Trong vòng hai thập kỷ qua, từ một nước nhập khẩu lương thực, VN đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm). Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế VN, đóng góp gần 15% GDP và 4,9% tổng thu ngân sách nhà nước, chiếm trên 30% tổng kim ngạch xuất khẩu, tạo ra hàng vạn công ăn việc làm.

VN đã được các nước ủng hộ đăng cai tổ chức và đã tổ chức thành công nhiều Hội nghị quốc tế. Qua các hội nghị cả hội nghị cấp cao, VN đã để lại dấu ấn của mình trong đời sống chính trị quốc tế đương đại. VN trở thành ủy viên không thường trực HĐBA LHQ.

Các mặt công tác thông tin đối ngoại, công tác đối với cộng đồng người VN ở nước ngoài... cũng đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại đã có bước trưởng thành nhất định, triển khai thực hiện có kết quả đường lối và các chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng.


Câu hỏi:

Đồng chí hãy làm rõ tại sao ĐH IX đặt vấn đề phải mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn cách mạng mới.

Đồng chí hãy làm rõ tại sao ĐH IX đặt vấn đề phải mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn cách mạng mới.

Bài làm

Tình hình thế giới trong những năm gần đây vẫn diễn biến rất phức tạp. CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ khiến CNXH tạm lâm vào thoái trào. CNXH hiện thực đứng trước nhiều khó khăn thử thách to lớn, song nước ta vẫn kiên trì mục tiêu tiếp tục xây dựng đất nước đi lên CNXH. Trước những sai lầm các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới xây dựng đất nước đi lên CNXH, trong đó có sự đổi mới về đường lối đối ngoại. Xuất phát từ tình hình thế giới, đặc điểm của đất nước và xu thế thời đại, quan điểm đổi mới trong quan hệ đối ngoại đã được Đảng khẳng định tại Đại hội lần IX : “mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”. Đây là quan điểm có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước trong giai đoạn hiện nay.

I. Đặc điểm tình hình thế giới và xu thế quan hệ quốc tế tác động đến chính sách, đường lối đối ngoại của các quốc gia trong đó có VN

1. Đặc điểm tình hình thế giới:

Sau những biến cố chính trị ở các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô, tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp chứa đựng những yếu tố khó lường

- Chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ khiến cho chủ nghĩa XH thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, song điều đó không làm thay đổi tính chất của thời đại, loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên chủ nghĩa XH, những mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại, có mặt phát triển sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra với nhiều hình thức. Cục diện quốc tế đang hình thành, các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác với nhau, mâu thuẩn giữa CNXH và CNTB đã chuyển biến từ đối đầu trực tiếp sang đối thoại Mặt khác,. CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, mối quan hệ giữa các nước XHCN anh em hạn chế, chúng ta không còn chổ dựa nào khác ngoài việc tự nổ lực tìm con đường phát triển kinh tế xã hội cho riêng mình. Điều đó đã tác động trực tiếp đến đường lối đối ngoại của Đảng ta, buộc Đảng ta phải đưa ra đường lối đối ngoại đổi mới thích hợp nhằm thêm bạn bớt thù để có điều kiện ổn định tình hình chính trị, xây dựng kinh tế xã hội.

- Cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng SX, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, tạo ra xu thế quốc tế hóa nền kinh tế toàn cầu và đời sống xã hội. Quá trình toàn cấu hóa đặt ra cho các đang phát triển những thời cơ và thách thức. Thời cơ do sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ tạo ra là nó đã tác động đến nền tảng kinh tế của tất cả các quốc gia, tạo ra xu thế đổi mới, cải cách cả về kinh tế và chính trị xã hội. Nó đã tạo ra những điều kiện để phân loại phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất mà các nước nghèo và chậm phát triển có thể tranh thủ ngay những thành tựu và điều kiện đó để phát triển đất nước. Thách thức do cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tạo ra là vì những thành tựu của nó một phần đã bị con người sử dụng vào mục đích chiến tranh để sản xuất ra những loại vũ khí giết người hàng loạt có thể hủy diệt nền văn minh nhân loại. Mặt khác nó cũng còn tạo ra những thách thức về khoảng cách giàu nghèo và về vận tốc phát triển đối với các nước nghèo và chậm phát triển về kinh tế. Chính những thời cơ và thách thức lớn mà cuộc cách mạng KHKT và CN tạo ra buộc chúng ta phải đổi mới đường lối đối ngoại để hợp tác với các nước trên thế giới nhằm tiếp cận nhanh chóng, tranh thủ được những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại tiên tiến, tạo điều kiện đi tắt đón đầu để đẩy nhanh công cuộc phát triển đất nước

- Nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt bị đẩy lùi nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi. Cộng đồng thế giới đang đứng trước những vấn đề có tính chất toàn cầu (bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo). Đó là những mâu thuẫn đang đặt ra có liên quan trực tiếp đến toàn bộ nhân loại, mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết được nếu không có sự hợp tác đa phương. Điều đó đòi hỏi để tồn tại và phát triển phải có sự xích lại gần nhau giữa các quốc gia để cùng nhau giải quyết.

- Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đang phát triển năng động với tốc độ cao nhưng cũng tiềm ẩn những nhân tố gây bất ổn định. Xét trên tổng thể Khu vực Châu Á Thái Bình Dương là khu vực tập trung một số nước có tiềm năng nhất thế giới về tài nguyên, kinh tế, khoa học và lao động, đây là thị trường lớn của thế giới, song nó cũng là khu vực bị các nước lớn trách nhiệm giành quyền lực, sự không đồng nhất về chính trị, những mâu thuẫn tôn giáo dân tộc và sắc tộc đậm nét, một số vấn đề biên giới chưa được giải quyết…

2. Xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế hiện nay:

Trước tình hình thế giới như vậy, Đảng ta đã nhận định xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế chủ yếu hiện nay đó là :

- Hòa bình ổn định và hợp tác để phát triển là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện nay. Đây là đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và các quốc gia trên thế giới.

- Các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác liên kết khu vực và quốc tế. Hợp tác, liên kết ngày càng tăng nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt.

- Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh chống lại sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền văn hóa dân tộc.

- Các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng tiến bộ trên thế giới vẫn kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và toàn bộ xã hội.

- Các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình. Đây là xu thế rất mới, thể hiện rõ tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp không phân tuyến trong giai đoạn hiện nay.

II. Đường lối chính sách đối ngoại hiện nay của Đảng ta

Xuất phát từ tình hình trên, Đại hội Đảng lần IX đã khẳng định nhiệm vụ đối ngoại là tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển KT- XH, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ XH.

Đường lối của công tác đối ngoại giai đoạn này là: “Mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” để tạo điều kiện phát triển đất nước đi lên trên con đường CNH-HĐH.

* Về việc mở rộng quan hệ đối ngoại :

V
3a-4
iệc mở rộng quan hệ đối ngoại được thể hiện bằng việc mở rộng quan hệ song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước XHCN và các nước láng giềng, các nước Asian. Tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển. Thúc đẩy quan hệ đa phương với các nước phát triển và các tổ chức quốc tế. Tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu.

Việc mở rộng quan hệ đối ngoại được thực hiện theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thỗ, không can thiệp vào nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; bình đẳng và cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hòa bình; làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền.

Trên cơ sở đó, việc mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân còn có ý nghĩa là cho phép công dân VN hợp pháp có quyền đối ngoại nếu đảm bảo 3 điều kiện : một là đối tác mà ta quan hệ không có những hoạt động chống đối nhà nước và nhân dân VN, hai là đối tác được Nhà nước sở tại cho phép và ba là phải được một công dân VN hợp pháp, một cơ quan, một tổ chức chính thức trong nước bảo lãnh. Đây cũng là 3 điều kiện để kiều dân VN trở về tổ quốc.

* Về hội nhập kinh tế quốc tế :

Một trong những phương hướng lớn trong đường lối đối ngoại mà Đại hội lần IX của Đảng nhấn mạnh là vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” bắt nguồn từ nhận thức về quá trình toàn cầu hóa với những tác động tích cực và tiêu cực của nó. Từ sự phát triển vượt bật của KHCN, điều kiện SX vật chất đã vượt biên giới quốc gia và khu vực, nền đại công nghiệp tạo ra thị trường thế giới : chính những yếu tồ đòi hỏi sự hợp tác, phân công lao động ngày càng sâu, nó quy định sự tùy thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng giữa các nước trên thế giới trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế.

Nhận thức rõ xu thế ấy, Đảng ta không chủ trương theo đuổi đường lối biệt lập mà luôn luôn coi hội nhập kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia mà trong đó VN muốn phát triển kinh tế tất yếu phải đi theo con đường ấy. Cũng có ý kiến cho rằng VN không cần phải hội nhập hoặc từ từ hãy hội nhập kinh tế quốc tế, điều này có thể sẽ dẫn đất nước đến cảnh “một mình một chợ”, không bán được cho ai cũng không mua được gì của ai, điều đó chỉ gây thiệt thòi cho đất nước mà thôi. Mỗi bước đi trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, sự thận trong là cần thiết nhưng không thể chậm trễ, bởi VN đã là một trong những nước cuối cùng gia nhập WTO. Tất nhiên sẽ có những mất mát về lợi ích trước mắt, song về lâu dài, đó chính là con đường để phát triển, là cơ chế để chúng ta giải quyết những vấn đề khó khăn của kinh tế trong nước một cách hiệu quả.

Như vậy, mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế chính là nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ tiếp cận, ứng dụng KH công nghệ kỹ thuật hiện đại, tranh thủ các nguồn vốn, kiến thức quản lý để đầu tư vào sự nghiệp CNH-HĐH làm chuyển biến tích cực. Chính thông qua hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta có điều kiện học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước phát triển, giúp nước ta đi tắt đón đầu trong quá trình phát triển, tiếp nhận ngay những thành tựu KHKT của các nước tiên tiến. Đối với VN nước ta là một nước nghèo, lại bị hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại nên việc đi tắt đón đầu có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp chúng ta vượt nhanh để theo kịp quá trình tốc độ phát triển kinh tế thế giới.

Quán triệt chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng xác định rõ : hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình hợp tác vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức; do đó cần phải linh hoạt, khôn khéo, tỉnh táo trong xử lý tính 2 mặt của hội nhập, không nên nóng vội.

Hội nhập kinh tế quốc tế là chấp nhận sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng gay gắt trên phạm vi toàn cầu đồng thời phải chấp nhận những luật lệ quy định chung về quan hệ kinh tế đang được áp dụng. Do đó, chúng ta phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý KTXH, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế. Khẩn trương xây dựng và thực hiện kế hoạch hội nhập kinh tế với lộ trình hợp lý và chương trình hành động cụ thể, phát huy tính chủ động của các cấp, các ngành và các doanh nghiệp. Phải nhận thức đầy đủ đặc điểm của nền kinh tế nước ta để đề ra kế hoạch và thời gian hợp lý, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế. Cần đặc biệt quan tâm kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia nhằm củng cố chủ quyền và an ninh tổ quốc, cảnh giác cao với những âm mưu diễn biến hòa bình.

Đồng thời chúng ta cũng cần phải thực hiện tốt một số nhiệm vụ cơ bản trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đó là :

- Tiến hành tuyên truyền rộng rãi nhằm nâng cao nhận thức và có sự thống nhất hành động về hội nhập kinh tế quốc tế..

- Xây dựng chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế với một lộ trình cụ thể .

- Chủ động và khẩn trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và trình độ quản lý. Nâng cao chất lượng hạ giá thành sản phẩm, tạo ra những sản phẩm mủi nhọn để hàng hóa và dịch dịch cụ của ta chiếm lĩnh thị trường thế giới và khu vực, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. .

- Tích cực tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại hình thị trường hàng hóa, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, đổi mới các công cụ, quản lý kinh tế thông thoáng, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, đổi mới các công cụ quản lý kinh tế, đổi mới và củng cố hệ thống tài chính, ngân hàng.

- Có kế hoạch cụ thể đẩy mạnh, công tác đào tạo nguồn nhân lực và vững vàng về chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và và CNXH, có đạo đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ và ngoại ngữ, có tác phong công nghiệp và tinh thần kỷ luật cao.

- Phải gắn kết chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế với nhiệm vụ củng cố an ninh quốc phòng ngay từ khâu hình thành kế hoạch, xây dựng lộ trình cũng như trong quá trình thực hiện.

- Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại.

- Tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập tổ chức thương mại thế giới theo các phương án và lộ trình hợp lý, thích hợp với hoàn cảnh của đất nước, gắn quá trình đàm phán với quà trình đổi mới mọi mặt hoạt động kinh tế ở trong nước.

- Kiện toàn ủy ban quốc gia và hợp tác kinh tế quốc đủ năng lực và thẩm quyền, giúp Thủ tướng chính phủ tổ chức, chỉ đạo các hoạt động về hội nhập kinh tế quốc tế.
1   2   3   4   5

liên quan:

CNXH HIỆN THỰC iconPhụ lục KHUNG CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG Triển khai thực hiện Đề án thực thi Hiệp định Hàng rào kỹ thuật

CNXH HIỆN THỰC iconThực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 03/11/2011

CNXH HIỆN THỰC iconBiết được đặc điểm cơ bản của các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay. & Cách thực hiện

CNXH HIỆN THỰC icon2008 Câu 1: Anh chị hãylàm rõ cơ sở lý luận của con đường đi lên CNXH? Và việc đi lên CNXH ở Việt Nam?

CNXH HIỆN THỰC iconThực Trạng Rác Thải

CNXH HIỆN THỰC icon5. HỌC PHẦN : CNXH KHOA HỌC

CNXH HIỆN THỰC iconBài 3: Đi lên CNXH, con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn

CNXH HIỆN THỰC iconTính tất yếu của thời kì quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ Tư Bản chủ nghĩa ở Việt Nam

CNXH HIỆN THỰC iconVấn đề 1 : Tính khách quan của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam

CNXH HIỆN THỰC iconVấn đề 1 : Tính khách quan của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương