Chủ nghĩa duy vật mácxít cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học




tải về 0.97 Mb.
TênChủ nghĩa duy vật mácxít cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học
trang9/15
Chuyển đổi dữ liệu19.09.2012
Kích0.97 Mb.
loạiTài liệu
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   15
2. Quan điểm Mácxít về giai cấp và đấu tranh giai cấp

a, Khái niệm giai cấp, nguồn gốc giai cấp và kết cấu giai cấp

Giai cấp xuất hiện và mất đi theo quy luật phát triển của lịch sử. Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ chưa có sản phẩm dư thừa tương đối nên chưa có khả năng xuất hiện giai cấp. Cuối xã hội nguyên thuỷ, công cụ sản xuất bằng kim loại xuất hiện làm cho năng suất lao động tăng lên, sự phân công lao động diễn ra, sản phẩm mà con người sản xuất vượt nhu cầu tối thiểu để tồn tại, tạo khả năng và tiền đề phân hoá xã hội thành giai cấp. Chế độ tư hữu dần dần thay thế chế độ công hữu nguyên thuỷ về tư liệu sản xuất, đây là cơ sở trực tiếp của sự hình thành giai cấp. C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ rằng nguyên nhân xã hội phân chia thành giai cấp, cũng như nguyên nhân của sự ra đời và mất đi của hệ thống giai cấp này hay hệ thống giai cấp khác là nguyên nhân kinh tế chứ không phải nguyên nhân chính trị hay tư tưởng. Sự ra đời cũng như sự mất đi của xã hội có giai cấp, sự mất đi của những giai cấp cụ thể đều dựa trên tính tất yếu kinh tế. Các cuộc chiến tranh, thủ đoạn cướp bóc, những hành vi bạo lực đã góp phần đẩy nhanh quá trình phân hoá giai cấp. Bạo lực vốn đã có từ đầu xã hội nguyên thuỷ, nhưng không tạo ra chế độ tư hữu và giai cấp. Sự hình thành giai cấp và đấu tranh giai cấp trong các xã hội có giai cấp đã được nhiều học giả đề cập đến. Cống hiến to lớn của Mác vào lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp là ở chỗ: Trước hết, Mác đã đưa lại một quan niệm khoa học về giai cấp, xem xét vấn đề giai cấp trên cơ sở quan điểm duy vật về lịch sử. Ngày 5 tháng 3 năm 1852, trong thư gửi cho Iôxíp Vâyđơmaiơ, Mác tổng kết: ông không có công phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng không có công phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhau. Trước Mác rất lâu, các nhà sử học tư sản đã trình bày sự phát triển lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó, theo Mác: “Cái mới mà tôi đã làm là chứng minh được rằng: 1) Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất, 2) đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, 3) Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp”(1).

Trong tất cả các tác phẩm của mình, Mác và Ăngghen đã chỉ rõ, giai cấp chỉ xuất hiện trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định. Sự xuất hiện giai cấp trong quá trình phát triển của xã hội loài người đã được Ăngghen trình bày một cách tỷ mỉ trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của Nhà nước".

Theo quan điểm mácxít, sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới sự phân công lao động. Sự phân công lao động làm cho năng suất lao động nâng cao. Quá trình này tác động qua lại với nhau đã tạo ra của cải dư tương đối. Chính số của cải dư có giới hạn này đã tạo ra chế độ tư hữu làm cơ sở cho sự phân hoá xã hội thành các giai cấp đối kháng. Các nhà kinh điển của nghĩa Mác không phải chỉ nhận thấy cội nguồn của sự phân hoá giai cấp ở cơ sở kinh tế, mà còn thấy đặc trưng cơ bản của các giai cấp cũng là đặc trưng kinh tế. Mác, Ăngghen và Lênin đã phân tích toàn bộ sự phát sinh và phát triển của các giai cấp, trong các giai đoạn khác nhau và cho rằng, thực chất mối quan hệ giữa chúng: như chủ nô và nô lệ, địa chủ quý tộc và nông nô, tư sản và vô sản là quan hệ bóc lột và bị bóc lột.

Trong bộ "Tư bản", Mác đã tập trung phân tích mối quan hệ giữa tư sản và vô sản, vạch ra mâu thuẫn đối kháng không thể điều hoà giữa hai giai cấp này và chỉ ra xu thế tất yếu phải thay thế xã hội tư bản bằng một chế độ tốt đẹp hơn: chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Việc phát hiện ra quy luật bóc lột giá trị thặng dư trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã vạch ra bản chất của quan hệ tư bản chủ nghĩa. Dựa trên quan điểm duy





(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.28, tr.-662.

vật, Mác, Ăngghen và Lênin còn phân tích kết cấu giai cấp ở các nước tư bản chủ nghĩa khác nhau, vạch ra những giai cấp cơ bản và không cơ bản, các giai cấp đối kháng và những giai cấp trung gian, các tầng lớp xã hội khác nhau và xác định vai trò của các giai cấp và các tầng lớp trong các xã hội có giai cấp.

Lênin đã tiếp thu có phê phán những quan điểm của các nhà triết học trước đây và tóm tắt toàn bộ những tư tưởng của Mác và Ăngghen về những đặc trưng căn bản của giai cấp và đưa ra định nghĩa nổi tiếng về giai cấp:

Người ta gọi là giai cấp những tập đoàn người to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ về phần của cải ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác trong một chế độ kinh tế – xã hội nhất định”(1).

Nói đến giai cấp là nói đến hệ thống các tập đoàn người trong một chế độ kinh tế-xã hội nhất định. Mỗi hệ thống giai cấp tương ứng với một hệ thống sản xuất xã hội, về bản chất, là thể thống nhất của các mặt đối lập. Do đó, không thể hiểu được đặc trưng của từng giai cấp cụ thể nếu không đặt nó trong mối quan hệ với giai cấp đối lập với nó. Định nghĩa giai cấp của V.I.Lênin cho phép ta nắm được những đặc trưng chung, cơ bản nhất, những dấu hiệu phổ biến, ổn định nhất của giai cấp:

1- Nói đến giai cấp là nói đến sự khác nhau giữa các tập đoàn người về địa vị trong một hệ thống kinh tế – xã hội nhất định. Trong hệ thống kinh tế-xã hội đó, tập đoàn người này là tập đoàn thống trị, tập đoàn người kia là tập đoàn bị trị.

2- Các giai cấp khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản xuất. Các tập đoàn người chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội, tức là nắm được phương tiện, điều kiện vật chất quan trọng nhất để chi phối lao động của các tập đoàn người không có hoặc có ít tư liệu sản xuất.

3- Các giai cấp trong xã hội khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động xã hội, trong tổ chức quản lý sản xuất. Tập đoàn nào chiếm hữu tư liệu sản xuất đương nhiên giữ vai trò lãnh đạo, chỉ huy hoạt động sản xuất và lưu thông trên quy mô toàn xã hội cũng như từng đơn vị kinh tế.

4- Khác nhau về phương thức thu nhận của cải xã hội. Chế độ phân phối sản phẩm trong xã hội có giai cấp đối kháng là chế độ phân phối bất công, vì nó đảm bảo cho giai cấp thống trị đủ điều kiện thực hiện mục đích của mình trong sản xuất kinh tế, là chiếm đoạt lao động thặng dư của giai cấp lao động.

Sự khác nhau về địa vị giữa các tập đoàn người trong chế độ kinh tế – xã hội tất yếu dẫn đến tập đoàn này chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác. Đó là bản chất của các xã hội có giai cấp đối kháng. Trong xã hội tư bản đương đại, bộ





(1) V.I.Lênin; toàn tập. T.39, NXB Tiến bộ, M, 1977, tr.17-18

mặt của các giai cấp và quan hệ giai cấp, về hình thức chiếm hữu tư liệu sản xuất có thể có những thay đổi nhất định nhưng điều không thay đổi là giai cấp tư sản vẫn là những người chiếm hữu tư liệu sản xuất của xã hội.

b, Đấu tranh giai cấp và vai trò của đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp đối kháng

Theo V.I.Lênin, đấu tranh giai cấp trong lịch sử và trong thời đại ngày nay thực chất là “cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”(1). Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị không những chiếm đoạt lao động của các giai cấp, các tầng lớp bị trị mà còn áp bức về chính trị, xã hội và tinh thần. Có áp bức thì có đấu tranh chống áp bức. Giai cấp bị trị liên minh với nhau để cùng đấu tranh bảo vệ những lợi ích chung của họ. Trong xã hội tư bản mới hình thành, đấu tranh giai cấp lúc đầu diễn ra dưới hình thức các cuộc đấu tranh riêng lẻ, tự phát, cục bộ, dần dần phát triển thành cuộc đấu tranh toàn quốc, có quy mô rộng lớn nhằm chống lại quyền lực chính trị của giai cấp thống trị, vì thế C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng “bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng là một cuộc đấu tranh chính trị”. Để bảo vệ những đặc quyền, đặc lợi của mình, giai cấp thống trị dùng mọi biện pháp và phương tiện bạo lực để chống lại các cuộc đấu tranh của các giai cấp bị áp bức.

Vai trò của đấu tranh giai cấp:

Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển quan trọng của xã hội có giai cấp. Động lực đó thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, do mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã xã hội hóa với quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân đã lạc hậu, mâu thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa một bên là giai cấp cách mạng, tiến bộ đại diện cho lực lượng sản xuất mới với một bên là giai cấp thống trị, bóc lột, bảo thủ đại biểu cho quan hệ sản xuất đã lạc hậu, lỗi thời. Trong các xã hội có giai cấp đối kháng, những quan hệ sản xuất lỗi thời không tự động nhường chỗ cho quan hệ sản xuất mới. Chúng được giai cấp thống trị tìm mọi cách bảo vệ, muốn gạt bỏ lực cản đó chỉ có thể thực hiện bằng đấu tranh giai cấp tức là cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân bị áp bức chống lại bọn đặc quyền, đặc lợi nhằm giải quyết mâu thuẫn về lợi ích giữa giai cấp thống trị, bóc lột với quần chúng bị bóc lột, thống trị. Đấu tranh giai cấp phát triển đến đỉnh cao trở thành cách mạng xã hội thay thế hình thái kinh tế xã hội cũ bằng hình thái kinh tế xã hội mới. Vì vậy, đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của lịch sử của xã hội có giai cấp.

Thứ hai, Qua đấu tranh giai cấp làm cho quần chúng lao động bị áp bức trưởng thành về mọi mặt như chính trị tư tưởng, đạo đức, ý thức tổ chức, trình độ quản lý, gột rửa được tinh thần nô lệ, cải tạo bản thân. Từ những quan điểm đúng đắn về giai cấp, Mác và Ăngghen, Lênin đã phân tích những cuộc đấu tranh giai cấp trong suốt quá trình lịch sử. Các ông cho rằng, lịch sử loài người, từ khi có




(1) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.7, tr.237-238.

giai cấp đối kháng là lịch sử đấu tranh giai cấp. Những cuộc đấu tranh giữa nô lệ và chủ nô, chúa đất và nông nô, tư sản và vô sản đã tạo nên sự vận động của lịch sử từ thấp đến cao. Những cuộc đấu tranh giai cấp không phải là những cuộc tạo phản, lật đổ mà là những cuộc đấu tranh có ý nghĩa cách mạng, nhằm xoá bỏ những chế độ xã hội, những giai cấp đã lỗi thời, thay đổi quan hệ sản xuất để tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. Đấu tranh giai cấp còn là động lực phát triển các mặt của đời sống xã hội trong thời kỳ phát triển bình thường, chẳng hạn dưới chế độ tư bản phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đã buộc giai cấp tư sản đổi mới phương thức quản lý, đổi mới kỹ thuật để đảm bảo lợi nhuận cho họ.

Thứ ba, đấu tranh giai cấp dẫn đến thủ tiêu giai cấp, giai cấp không tồn tại mãi mãi. Nếu do nguyên nhân kinh tế đã làm sản sinh ra giai cấp, thì đến một lúc nào đó, sự phát triển hết sức cao của sản xuất cũng tạo điều kiện để thủ tiêu giai cấp. Chính chủ nghĩa tư bản với một lực lượng sản xuất khổng lồ đang tạo ra cơ sở vật chất để có thể đi đến một xã hội với trình độ cao hơn về mọi mặt, lúc đó xã hội sẽ không còn giai cấp. Cho nên cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là cuộc đấu tranh giai cấp cuối cùng trong lịch sử. Với ý nghĩa đó, quan điểm mácxít cho rằng, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của lịch sử. Tư tưởng đó đã được chứng minh bằng toàn bộ sự phát triển của lịch sử từ trước đến nay.

Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản tất yếu đi tới thủ tiêu, tước hết quyền lực chính trị của giai cấp tư sản, thiết lập quyền thống trị của giai cấp vô sản, tức là thiết lập nền chuyên chính vô sản. Chuyên chính vô sản là một thể chế chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, dựa trên cơ sở liên minh của công nhân, nông dân và lực lượng trí thức tiến bộ, cách mạng.

Nhưng chuyên chính vô sản không phải là mục tiêu của cuộc đấu tranh giai cấp vô sản. Chuyên chính vô sản chỉ là công cụ, là phương tiện mà giai cấp vô sản phải xác định để có thể thực hiện được mục tiêu cơ bản của cách mạng. Mục tiêu của cuộc cách mạng vô sản là xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Chuyên chính vô sản, chỉ tồn tại chừng nào chủ nghĩa cộng sản chưa được xác lập một cách căn bản. Khi nào chế độ tư hữu về căn bản bị xoá bỏ, năng suất lao động cao đến mức có khả năng đáp ứng nhu cầu vật chất của mọi tổ chức trong xã hội thì chuyên chính vô sản trở nên không cần thiết và nó tự tiêu vong. Vì vậy, chuyên chính vô sản chỉ là bước quá độ để đi đến xã hội không có giai cấp.

Xoá bỏ giai cấp là một quá trình lâu dài. Muốn xoá bỏ giai cấp phải thủ tiêu chế độ tư hữu. Mác và Ăngghen đã tuyên bố rằng, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất này là: xoá bỏ chế độ tư hữu.

Như vậy, điều kiện cơ bản để xoá bỏ chế độ tư hữu phải là sự phát triển cao của lực lượng sản xuất" đến mức khiến cho có thể sản xuất đủ sản phẩm cho mọi người, và khiến cho chế độ tư hữu trở thành xiềng xích ngăn cản sự phát triển của các lực lượng sản xuất đó". Để có điều kiện này, phải có một giai đoạn lịch sử khá dài, không những phải cần có sự phát triển rất cao của lực lượng sản xuất, mà còn cần sự trưởng thành căn bản của con người, xoá bỏ những phân cách giữa lao động trí óc và lao động chân tay, xoá bỏ những khác biệt về đời sống vật chất cũng như tinh thần giữa nông thôn và thành thị.

Như vậy, chủ nghĩa Mác luôn khẳng định sự xuất hiện giai cấp, đấu tranh giai cấp và xoá bỏ giai cấp đều là những tất yếu khách quan. Nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất cứ giai cấp nào, và chừng nào các điều kiện khách quan chưa cho phép thì không một giai cấp nào có thể thực hiện được những mục tiêu của mình.

Muốn xoá bỏ giai cấp phải thủ tiêu chế độ tư hữu. Tuy nhiên, thủ tiêu chế độ tư hữu là một quá trình lâu dài. Mác và Ăngghen đã khẳng định rằng “ Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất là: xoá bỏ chế độ tư hữu. Nhưng liệu có thể xoá bỏ chế độ tư hữu ngay lập tức được không? Ăngghen trả lời: “Không, không thể được, cũng như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu. Cho nên, cuộc cách mạng của giai cấp vô sản đang có tất cả các triệu chứng sắp nổ ra, sẽ chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần, và chỉ khi nào tạo nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu”.

c, Một số quan điểm sai lầm về giai cấp và đấu tranh giai cấp

Học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin hiện nay bị tấn công trên nhiều lĩnh vực. Trước hết trên lĩnh vực tư tưởng, đấu tranh tư tưởng là một trong ba lĩnh vực cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp (cùng với đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị).

1. Phủ nhận đấu tranh giai cấp: Lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp vạch ra tính tất yếu của chuyên chính vô sản. Vì vậy, các đại biểu tư tưởng của giai cấp tư sản luôn tìm cách phủ nhận học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp bằng những phương pháp khác nhau. Một số học giả tư sản phủ định hoàn toàn học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp. Họ cho rằng, Mác đã quá nhấn mạnh sự đối lập của tư sản và vô sản khi đề ra học thuyết này. Họ khẳng định, quy luật đấu tranh giai cấp không phải là quy luật phổ biến, không thể áp dụng cho xã hội tư bản chủ nghĩa. Một số học giả ở Mỹ cho rằng lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp không vận dụng được vào nước Mỹ vì các giai cấp đã xích lại gần nhau. Họ mô tả sự biến động của các giai cấp và tầng lớp xã hội ở Mỹ nhanh như sự vận động trên những "thang điện xã hội". Vì vậy, việc phân định giai cấp trở nên không có ý nghĩa.

2. Thừa nhận sự phân chia xã hội thành giai cấp nhưng lại tìm cách bác bỏ quan niệm khoa học về giai cấp của chủ nghĩa Mác. Nhiều người lại đưa ra những tiêu chí khác để phân biệt giai cấp như: Sự khác nhau về sinh học, ý thức, tâm lý, nghề nghiệp ...Phần lớn các nhà kinh tế lấy thu nhập để phân biệt giai cấp. Ngoài ra còn có một số học giả tư sản khác đưa ra những tiêu chí tuỳ tiện, phản khoa học để phân biệt các giai cấp và tầng lớp xã hội. Tất cả các quan điểm trên đều nhằm mục đích bác bỏ chủ nghĩa Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp.

3. Khuynh hướng hữu khuynh muốn dùng các biện pháp cải lương để giải quyết mâu thuẫn giai cấp. Họ nhấn mạnh hình thức đấu tranh kinh tế, mục tiêu kinh tế, không chú ý đúng mức mục tiêu chính trị, lảng tránh cách mạng xã hội. Đại biểu của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại là Ê-đu-a-Béc-xtanh (1850-1932), một trong những lãnh tụ của phái xã hội dân chủ cải lương Đức. Ông ta kịch liệt chống lại lý luận mác xít về đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội và chuyên chính vô sản. Béc-xtanh cho rằng, nhiệm vụ của phong trào công nhân chung quy chỉ là đấu tranh để đòi có những cuộc cải cách mà mục tiêu là "cải thiện" hoàn cảnh kinh tế của công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa. Cau-xki (1854-1938), đảng viên Đảng xã hội dân chủ Đức, "một người có uy thế lớn nhất trong Quốc tế thứ hai", cũng đã xa dần chủ nghĩa Mác và đi cùng đường với Béc-xtanh, phản đối học thuyết chuyên chính vô sản.

Phái Béc-xtanh và Cau-xki ở Đức, phái "kinh tế chủ nghĩa" và Men-sê-vích ở Nga, bộ phận "mácxít áo" ở áo ... đều đứng trên lập trường của chủ nghĩa cải lương để nhìn nhận vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp. Nội dung chủ yếu của chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩa cơ hội là tư tưởng hợp tác giai cấp, "hoà hợp" quyền lợi giai cấp. Quan điểm của họ là điều hoà lợi ích giai cấp công nhân và giai cấp tư sản để đối lập với học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa cải lương xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, ngày nay việc chống chủ nghĩa cải lương - Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và chủ nghĩa xét lại đang là một trong những nội dung chủ yếu trong tình hình quốc tế mới.

4. Chủ nghĩa "tả khuynh" trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Lênin cho rằng chủ nghĩa giáo điều "tả khuynh" thực chất là đầu óc "cách mạng" tiểu tư sản. Nó "gần giống như chủ nghĩa vô chính phủ hay đã có một số nét nào đó mượn của chủ nghĩa vô chính phủ và trong tất cả những vấn đề cơ bản, đều xa rời những điều kiện và những yêu cầu tất yếu của một cuộc đấu tranh giai cấp triệt để của giai cấp vô sản"(1).

Đặc điểm của chủ nghĩa cơ hội "tả khuynh" là ở chỗ nó che dấu bản chất cơ hội chủ nghĩa của mình dưới cái vỏ những câu "cách mạng cực đoan" suông để lợi dụng tình cảm của quần chúng. Nó tỏ ra chủ quan trong việc đánh giá các sự kiện và muốn bỏ qua những bước quá độ, đẩy phong trào đi đến chỗ phiên lưu, bỏ qua những biện pháp mềm dẻo. Chủ nghĩa cơ hội tả khuynh và hữu khuynh đều đối lập với quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác. Nó gây tổn thất nghiêm trọng chẳng những cho một Đảng mà còn cho toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa kinh tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã tạo nên bước nhảy vọt về lực lượng sản xuất. ở các nước tư bản phát triển, đã hình thành cơ sở công nghệ của sản xuất với nền kỹ thuật điện tử - tin học và đã hoàn thành việc tái sản xuất theo chiều sâu. Lượng sản xuất chuyển từ các ngành công nghiệp truyền thống sang các ngành có hàm lượng khoa học cao. Tiến bộ khoa học - kỹ thuật đã làm thay đổi cơ cấu ngành nghề bên trong mỗi




(1). V.I.Lênin: Toàn tập, t.41, Nxb Tiến bộ, M, 1977, tr.17

nước và trên cả phương diện quốc tế, đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá tư bản chủ nghĩa. Tạo nên sự thay đổi cơ cấu xã hội - giai cấp trong mỗi nước và ảnh hưởng đáng kể đến mối quan hệ giữa các nước, giữa các khu vực khác nhau. Giai cấp công nhân ở các nước thay đổi về cơ cấu. Bộ phận công nhân tri thức ngày một tăng. Tỷ lệ công nhân áo xanh ngày càng giảm. Công nhân dịch vụ tăng hết sức nhanh. Một số công nhân ở các nước tư bản phát triển đã có điều kiện tham gia Công ty cổ phần, làm cho việc tập hợp, tổ chức đấu tranh của giai cấp công nhân trở nên khó khăn hơn. Sự điều chỉnh nhất định về quan hệ sản xuất và việc nâng cao mức sống của công nhân do tiến bộ của khoa học - kỹ thuật đã làm cho một số người tưởng rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về bản chất và giai cấp công nhân không còn sứ mệnh lịch sử giải phóng nhân loại nữa.

3, Vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

a, Đặc điểm giai cấp và quan hệ giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

ở Việt Nam, vào những năm đầu của sự nghiệp đổi mới cũng có những người cho rằng, cần từ bỏ quan điểm mácxít về đấu tranh giai cấp, xuất phát từ những cơ sở và những động cơ khác nhau. Có những người không hiểu thực chất của lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp, họ chỉ nhìn thấy những hậu quả của thời kỳ Xta-lin ở Liên Xô, thấy những mặt tiêu cực trong cách mạng tư tưởng văn hoá ở Trung Quốc và những sai lầm trong cải cách ruộng đất ở Việt Nam; họ xem đó là thực chất của học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp, học thuyết phản nhân đạo và phản khoa học.

Một số khác, do tiếp cận với chủ nghĩa tư bản một cách không đầy đủ, bị choáng ngợp trước sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản, đã đòi chúng ta từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa để đi theo chủ nghĩa tư bản.

Cũng có kẻ nhân những thất bại của chủ nghĩa xã hội muốn thực hiện những ý đồ chính trị phản động, kiếm chác quyền lực chính trị cho cá nhân mình. Những biểu hiện tư tưởng trên ở Việt Nam tất nhiên không rõ ràng và chưa mạnh mẽ; không tồn tại được lâu dài dưới các hình thức công khai, song nó cũng không hoàn toàn mất đi một cách dễ dàng.

Hiện nay Việt Nam đã có hòa bình, ổn định về chính trị, đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tốc độ phát triển kinh tế nhanh, quốc phòng, an ninh được củng cố. Gia nhập tổ chức thương mại thế giới đã mở ra cơ hội lớn nhưng cũng đứng trước những thách thức mới. Vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp, dân tộc đang chuyển sang những lĩnh vực chủ yếu về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, lối sống. Nhưng cũng không được coi thường các vấn đề mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, vì sự diễn biến phức tạp, khó lường của thời đại, cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta diễn ra trong điều kiện rất khó khăn. Chủ nghĩa đế quốc và Bọn phản động lợi dụng đổ vỡ của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô hòng xoá bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực trên hành tinh và xoá bỏ luôn cả học thuyết Mác - Lênin, trong đó có lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp. Vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp càng trở nên phức tạp trong quá trình phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thực hiện chính sách mở cửa trong quan hệ quốc tế. Những năm đổi mới đã xuất hiện hai quan điểm sai lệch, trái ngược nhau trong vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp:

Quan điểm "hữu" khuynh: Nảy sinh trong nhân dân và trong một số cán bộ đảng viên, quan điểm này cho rằng, chủ nghĩa tư bản đã biến đổi về chất, ở nước ta không còn mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp; vì vậy, học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin là cổ lỗ, xa lạ, lỗi thời. Có người còn cho rằng, học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp chỉ dẫn đến chia rẽ, dẫn đến bất ổn trong xã hội, cản trở mối quan hệ quốc tế, làm cho chúng ta trở thành một đất nước bài ngoại, cô lập với thế giới văn minh. Qua 20 năm đổi mới ở Việt Nam và những diễn biến mới trên chiến trường ápganiStan, IRắc, Libi v.v. dần dần số người này cũng đã bắt đầu nhìn được phần nào bản chất của vấn đề là chủ nghĩa đế quốc không từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng nước ta. Chúng đang tích cực khai thác khuynh hướng tư bản chủ nghĩa, nhất là đang sử dụng hàng loạt các biện pháp và âm mưu phá hoại nhiều mặt, thực hiện "diễn biến hoà bình" đối với nước ta. Vì vậy, về quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp họ dần dần tránh được mơ hồ, ảo tưởng.

Quan điểm "tả" khuynh: Do sự phức tạp của tình hình trong nước và thế giới, đặc biệt trước sự phân hoá giàu nghèo ngày càng xa, tham nhũng ngày càng phổ biến trong nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều người tỏ ra hoang mang, dao động, lo lắng và không muốn mở rộng quan hệ đối ngoại, họ cho rằng phải "đóng cửa", "bế quan toả cảng". Từ đó, kẻ địch mới không thể lợi dụng tấn công ta và những thói hư tật xấu của chủ nghĩa tư bản mới không xâm nhập được vào nước ta. Quan điểm bảo thủ hẹp hòi, xơ cứng này cũng gây nhiều trở ngại cho công cuộc mở cửa, hoà nhập vào đời sống kinh tế quốc tế - một yêu cầu khách quan của thời đại hiện nay.

Tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh càng đòi hỏi chúng ta phải nắm vững phương pháp biện chứng duy vật để phân tích cụ thể tình hình cụ thể của đất nước, vừa khắc phục quan điểm "hữu khuynh" vừa khắc phục quan điểm "tả khuynh", giáo điều, cứng nhắc về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Từ đó có thể rút ra những đặc điểm cơ bản về giai cấp, đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay như sau:

1. Chúng ta đang "thực hiện sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa", con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã được đổi mới, chứ không phải là "thực hiện thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội". Trong quá trình đó, nhất thiết phải phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân, theo cách nói của Lênin, đó là sử dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước làm khâu trung gian để đưa nền sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ đó, tất yếu nảy sinh mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng phát triển kinh tế: một là sự phát triển được thực hiện tự giác, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; hai là khuynh hướng phát triển tự phát tư bản chủ nghĩa - một đặc tính vốn có của nền sản xuất nhỏ. Sự phát triển của các thành phần kinh tế khác cũng như của toàn bộ nền kinh tế quốc dân không thể tách rời việc giải quyết mâu thuẫn đó.

Như vậy, cuộc đấu tranh cho mục tiêu xã hội chủ nghĩa của chúng ta hiện nay là đấu tranh chống khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa. Sẽ là ảo tưởng nếu cho rằng xã hội ta hiện nay không còn sự khác biệt giai cấp, không còn mâu thuẫn giai cấp và do đó không có đấu tranh giai cấp. Nhưng cũng hết sức sai lầm nếu phân chia các giai cấp thành hai lực lượng xã hội đối lập.

2. Để định hướng phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Còn khuynh hướng tự phát đi lên chủ nghĩa tư bản vốn là một đặc tính của nền sản xuất nhỏ, nó được tăng cường bởi những hoạt động đầu cơ buôn lậu và những hành động phi pháp khác của thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Vì vậy, chúng ta phải chủ động, tự giác và tỉnh táo trước những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.

3. Mỗi khi còn thành phần kinh tế tư bản tư nhân thì vẫn còn mâu thuẫn giữa lao động và tư bản. Song, tính chất của mâu thuẫn này đã khác trước, do hoàn cảnh xã hội ta đã có những thay đổi căn bản: tất cả các thành phần kinh tế quốc doanh, hợp tác, cá thể, tư bản tư nhân v.v.. đều tồn tại bình đẳng và hoạt động trong khuôn khổ chính sách, pháp luật của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, sự phát triển giai cấp tư sản từ "tự nó" không còn là cái tất yếu khách quan trong xã hội ta. Trong lịch sử nhân loại, mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản vốn mang tính đối kháng, nhưng chỉ phát triển thành xung đột giai cấp sau khi hai giai cấp đó cùng nhau đánh đổ chế độ phong kiến nhưng kết cục lại là giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị xã hội. ở nước ta ngày nay, giai cấp công nhân dù lao động ở thành phần kinh tế nào cũng có quyền làm chủ đất nước. Mâu thuẫn tư bản và công nhân được giải quyết từng bước bằng sự quản lý của Nhà nước của nhân dân. Như vậy, đấu tranh giai cấp ở đây vẫn là đấu tranh chống khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa, chứ không phải chống giai cấp tư sản nói chung.

4. "Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội"(1), nhưng chúng ta vẫn cần vận dụng quan điểm mácxít về giai cấp và đấu tranh giai cấp một cách hết sức sáng tạo vào hoàn cảnh nước ta. Có như vậy mới tránh được những khuynh hướng cực đoan sai lầm: quan điểm hữu khuynh mơ hồ cũng như quan điểm "tả khuynh", giáo điều về giai cấp và đấu tranh giai cấp.

b, Nội dung và hình thức đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Vận dụng quan điểm của Lênin “Trong điều kiện chuyên chính vô sản, những hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản không thể giống như




(1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, HN, 1991, tr.7-8.

trước được”, điều kiện đấu tranh đã thay đổi, mục tiêu trực tiếp của các giai cấp thay đổi thì hình thức đấu tranh giai cấp cũng thay đổi. ở Việt Nam, giai cấp tư sản chưa bao giờ là lực lượng đại diện chân chính cho nhân dân Việt Nam. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, giai cấp tư sản Việt Nam bị phân hoá thành những người lao động, buôn bán, có người chạy theo tư bản đế quốc và nhiều thành phần khác nhau. Vì vậy, giai cấp tư sản Việt Nam không phải là lực lượng uy hiếp trực tiếp đối với chính quyền cách mạng. Nông dân Việt Nam đi theo Đảng qua hai cuộc kháng chiến, gắn bó với Đảng không chỉ với lý tưởng của Đảng mà còn vì sự hy sinh xương máu người thân cuả mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng. Niềm tin đối với Đảng đã ổn định, tự nhiên, bền vững. Trí thức Việt Nam đại đa số được đào tạo qua hai cuộc kháng chiến và đại đa số là con em công nông. Giai cấp công nhân đã nắm được chính quyền nhưng các thế lực tư bản quốc tế vẫn ra sức tìm mọi thủ đoạn từ bao vây, cấm vận, can thiệp quân sự, diễn biến hoà bình nhằm phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chẳng hạn Đế quốc Mỹ đã thất bại thảm hại trên chiến trường Việt Nam nhưng theo Mỹ, đó mới chỉ là vòng đấu loại, chưa đến vòng chung kết.

Vì vậy, cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, tư tưởng v.v. Chủ nghĩa xã hội chỉ giành được thắng lợi triệt để khi giai cấp công nhân lãnh đạo đông đảo quần chúng nhân dân xây dựng thành công phương thức sản xuất mới, tạo ra được năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản. Xuất phát từ những quan niệm đó Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định sự tồn tại của các giai cấp khác nhau trong xã hội ta hiện nay là tất yếu bởi vì “Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội”. Từ các hình thức sở hữu cơ bản (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân) hình thành nhiều thành phần kinh tế ( kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) với những hình thức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp cho nên tương ứng về mặt xã hội, các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau cùng tồn tại, trong đó thành phần cơ bản là giai cấp nông dân, công nhân và đội ngũ trí thức.

Trước đây do quan niệm không đúng, chúng ta cho rằng, cùng với việc cải tạo XHCN, chỉ còn lại hai giai cấp chủ yếu, tương ứng với hai hình thức sở hữu nhà nước và tập thể, các giai cấp khác chỉ còn với tư cách là tàn dư, không còn cơ sở kinh tế để tồn tại, cho nên, trong xã hội không còn chế độ tư hữu. Vì vậy, không còn đấu tranh giữa các giai cấp có lợi ích đối kháng nhau. Trong thời kỳ đổi mới, chế độ công hữu đang từng bước vươn lên trở thành nền tảng, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và sự quản lý của nhà nước XHCN không những làm cho các giai cấp công nhân và nhân dân lao động ngày một lớn lên, mà bản chất, vai trò, vị trí của các giai cấp tư hữu cũng có sự biến đổi khác xa so với giai cấp bóc lột trong xã hội tư bản. Trong xã hội Việt Nam hiện nay, một xã hội mới thoát thai từ xã hội cũ, với một cơ cấu kinh tế- xã hội còn rất phức tạp, sự phân hoá giai cấp và đấu tranh giai cấp còn diễn ra, nhưng so với xã hội cũ, về cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp đã thay đổi nhiều. Cho nên, mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội ở nước ta hiện nay là “Quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng”(1). Vì vậy, “Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh (2). Xuất phát từ những đặc điểm đó Đại hội IX khẳng định: “Nội dung chủ yếu của cuộc đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển; thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh và làm thất bại âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc”(3). Như vậy, trong văn kiện của Đảng nhấn mạnh đấu tranh giai cấp hiện nay chủ yếu là đấu tranh thực hiện sự nghiệp công nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khắc phục tình trạng một nước nghèo, kém phát triển. Quan niệm về đấu tranh giai cấp của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay có những đổi mới so với trước đây, chỉ ra những nội dung rõ ràng, đầy đủ hơn. Chứng tỏ Đảng ta đã vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo nguyên lý đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác- Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam hiện nay. Nội dung đấu tranh giai cấp không phải là cuộc đấu tranh chính trị thuần tuý nhằm lật đổ giai cấp thống trị như trong giai đoạn cách mạng giành độc lập, dân chủ, mà đấu tranh giai cấp trong điều kiện chúng ta đã có chính quyền vững mạnh, nhân dân lao động làm chủ, xây dựng đất nước thì nội dung kinh tế nổi lên hàng đầu. Đấu tranh giai cấp xét đến cùng là nhằm mục tiêu giải phóng lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất, là đảm bảo sự phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Cho nên, hình thức, biện pháp đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay lấy giáo dục, thuyết phục, nêu gương là chính, đấu tranh bằng các biện pháp hoà bình là căn bản. Giải quyết các mâu thuẫn giai cấp trong nước trên cơ sở thống nhất lợi ích chung, tạo nên sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, đại đoàn kết toàn dân tạo nên sức mạnh vô địch trong công cuộc xây dựng đất nước. Vì vậy, Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định:“động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội” (4).





(1) (2) (3) (4). Đảng cộng sản Việt Nam, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr.85, 85- 86, 86

1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   15

liên quan:

Chủ nghĩa duy vật mácxít cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học iconCâu 1: nội dung, hình thức, cấu trúc của thế giới quan khoa học và phương hướng hình thành thế giới quan khoa học

Chủ nghĩa duy vật mácxít cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học iconTHẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

Chủ nghĩa duy vật mácxít cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học iconGIỚI THIỆU KHÓA HỌC QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CHO NHÀ QUẢN LÝ

Chủ nghĩa duy vật mácxít cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học iconPhần thứ nhất THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC

Chủ nghĩa duy vật mácxít cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học iconTiết 1 Bài 1 THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG I- Mục tiêu bài học

Chủ nghĩa duy vật mácxít cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học iconKHÓA LUẬN/TIỂU LUẬN NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG KHÓA 2000 -2004

Chủ nghĩa duy vật mácxít cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học iconQuán triệt Thông báo Kết luận số 27-TB/TW ngày 9/5/2011 của Ban Bí thư (khóa XI) và sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 54-CT/TW ngày 30/11/2005 của Ban Bí thư (khóa IX) về “tăng cường lãnh đạo công tác phòng chống HIV/AIDS trong tình hình mới”

Chủ nghĩa duy vật mácxít cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học iconHỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI A. HƯỚNG DẪN VIẾT TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

Chủ nghĩa duy vật mácxít cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học iconMỘT VÀI THỂ HIỆN CỦA THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG VIỆC XEM XÉT TOÁN HỌC VÀ VẬN DỤNG VÀO NGHIÊN CỨU, GIẢNG DẠY TOÁN HỌC

Chủ nghĩa duy vật mácxít cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học iconKHOA GIÁO DỤC ĐẠI CƯƠNG BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ- THỂ DỤC-QUÂN SỰ TP. HCM, ngày 16 tháng 04 năm 2010

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương