Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn THPT




tải về 1.06 Mb.
TênTài liệu ôn tập môn Ngữ văn THPT
trang14/17
Chuyển đổi dữ liệu05.09.2012
Kích1.06 Mb.
loạiTài liệu
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   17

Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên để làm nổi bật tư tưởng Đất Nước của Nhân dân của Nguyễn Khoa Điềm.

DÀN Ý THAM KHẢO:

1. Ở đoạn thơ trên, Đất Nước được quy tụ bằng một loạt những hình ảnh, những hiện tượng, những địa danh, những danh nhân…mà bất cứ người Việt Nam nào cũng nhận ra: Hòn Trống Mái, núi Vọng Phu, voi Hùng vương, ngựa Thánh Gióng, núi Bút, non Nghiêng, vịnh Hạ Long hay những địa phương mang tên những Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm v.v…Cách nhìn của tác giả về những thắng cảnh, về địa lí là một cách nhìn có chiều sâu và là một phát hiện mới mẻ:

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

…………………………………………

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm


Những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú của đất nước khắp Bắc Trung Nam (Đá vọng phu, hòn Con Cóc, Con Gà hay hòn Trống Mái v.v…) được tiếp nhận, cảm thụ qua tâm hồn và qua lịch sử của dân tộc. Nếu không có những người vợ mòn mỏi nhớ chồng qua các cuộc chiến tranh và li tán thì cũng không có sự cảm nhận về núi Vọng Phu; nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dựng nước thì cũng không có thể có sự cảm nhận như vậy về vẻ hùng vĩ của vùng núi đồi xung quanh đền vua Hùng…

Tác giả đã liệt kê hàng loạt hiện tượng rồi quy nạp để đi đến một khái quát sâu sắc: Núi sông này và cuộc đời của dân tộc là một:

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lốt sống ông cha

Ôi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…

2. Khi nghĩ về bốn nghìn năm đất nước, nhà thơ không điểm lại các triều đại, các anh hùng nổi tiếng, mà nhấn mạnh đến vô vàn những con người vô danh, bình dị, sinh ra, lớn lên, lao động và đánh giặc từ thế hệ nọ tiếp nối thế hệ kia:

Có biết bao người con gái, con trai

Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và đã chết! Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

Những con người vô danh và bình dị ấy đã gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ sau mọi giá trị văn hoá, văn minh, tinh thần và vật chất của đất nước, của dân tộc: hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc, cả tên xã, tên làng…Họ cũng là những người:

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Có nội thù thì vùng lên đánh bại.

3. Tư tưởng cốt lõi, điểm hội tụ và cũng là cao điểm của cảm xúc trữ tình là tư tưởng “Đất Nước này là Đất Nước nhân dân” (nằm ở cuối đoạn trích). Cũng từ điểm này, chúng ta hiểu thêm những ý thơ trên. Và khi nói đến Đất Nước của Nhân dân, một cách tự nhiên, tác giả trở về với ngọn nguồn phong phú đẹp đẽ của văn hoá, văn học dân gian mà tiêu biểu là ca dao. Vẻ đẹp tinh thần của nhân dân, hơn đâu hết, có thể tìm thấy ở đó-trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích:

Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại

Câu thơ với hai vế song song, đồng đẳng là một cách định nghĩa về Đất Nước..thật giản dị mà cũng thật độc đáo. Trong cả kho tàng ca dao, dân ca, ở đây tác giả chỉ chọn lọc ba câu để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, dân tộc: thật say đắm trong tình yêu (“Yêu em từ thuở trong nôi”), quí trọng tình nghĩa (“Quí công cầm vàng những ngày lặn lội”) nhưng cũng thật quyết liệt trong câm thù và chiến đấu (“Trồng tre đợi ngày thành gậy – Đi trả thù mà không sợ dài lâu”…)

Chúng ta lại gặp cách vận dụng vốn ca dao, dân ca một cách sáng tạo: không lặp lại nguyên văn mà chỉ sử dụng ý và hình ảnh của ca dao, vẫn gợi nhớ đến câu ca dao nhưng lại trở thành một câu, một ý thơ gắn bó trong mạch thơ của bài.

4. Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân của Nguyễn Khoa Điềm thực ra là sự kế thừa và phát triển tư tưởng Đất nước của nhân dân đã manh nha trong lịch sử xa xưa, trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp và ở đây là chống Mĩ..

Những nhà tư tưởng lớn, những nhà văn của dân tộc đã từng nói lên nhận thức về vai trò của nhân dân trong lịch sử (Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu) hoặc cảm thông sâu sắc với số phận của nhân dân, của mọi lớp người trong nhân dân (Văn chiêu hồn, Truyện Kiều của Nguyễn Du).

Đến nền văn học hiện đại, được soi sáng bằng tư tưởng XHCN, bằng quan điểm mác xít về nhân dân và nẩy nở từ trong thực tiễn vĩ đại của cuộc cách mạng mang tính nhân dân sâu sắc, văn học từ sau Cách mạng tháng Tám đã đạt đến một nhận thức sâu sắc về nhân dân và cảm hứng về đất nước mang tính dân chủ cao.

Thơ ca kháng chiến chống Pháp là một ví dụ tiêu biểu (Tình sông núi của Trần Mai Ninh, Đất nước của Nguyển Đình Thi, Bên kia sông Đuống của Hoàng cầm).

Đến giai đoạn chống Mĩ, tư tưởng Đất nước của nhân dân một lần nữa được nhận thức sâu sắc thêm bởi vai trò và những đóng góp to lớn, những hi sinh vô vàn của nhân dân trong cuộc chiến tranh dài lâu và cực kì ác liệt này.

Tư tưởng ấy được các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước phát biểu một cách thấm thía qua sự trải nghiệm của chính mình như những thành viên của nhân dân, cùng chia sẻ mọi gian lao, hi sinh và được sự chở che, đùm bọc, nuôi dưỡng của nhân dân (Hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy, các trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo và Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh đều tập trung nói về những gương mặt của các con người bình thường, vô danh trong nhân dân và không phải ngẫu nhiên mà đều bắt đầu bằng hình ảnh người mẹ.)

Đây là đoạn thơ trữ tình – chính luận. Chất chính luận nằm trong ý đồ tư tưởng của tác giả: thức tỉnh tinh thần dân tộc của thế hệ trẻ thành thị miền Nam, để dứt khoát đứng về phía nhân dân và cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra quyết liệt. Đoạn thơ thể hiện được những chỗ mạnh của thơ Nguyễn Khoa Điềm: kết hợp cảm xúc và suy nghĩ, chính luận và trữ tình.

Thành công của đoạn trích là việc tạo một không khí, giọng điệu, một không gian nghệ thuật riêng đầy màu sắc sử thi, đưa người đọc vào thế giới gần gũi, mĩ lệ và giàu sức bay bổng của ca dao, truyền thuyết, của văn học dân gian, nhưng lại mới mẻ qua cách cảm nhận và tư duy hiện đại với hình thức câu thơ tự do. Đó chính là nét đặc sắc thẩm mĩ, thống nhất với tư tưởng “Đất nước của Nhân dân- Đất Nước của ca dao thần thoại”.


ĐỀ: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Đất Nước”(Nguyễn Khoa Điềm)

Trong anh và em hôm nay

.......................................

Làm nên Đất Nước muôn đời

* DÀN BÀI GỢI Ý:

I. MỞ BÀI:

- Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca thời kháng chiến chống Mĩ. Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư, giàu hình ảnh và những liên tưởng phong phú sáng tạo. Đất Nước được trích trong đoạn trích trường ca “Mặt đường khát vọng” tiêu biểu cho vẻ đẹp của Nguyễn Khoa Điềm.

- Đoạn trích thể hiện cách cảm nhận vừa mới mẻ vừa sâu sắc của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước, từ đó nêu lên trách nhiệm của mỗi người đối với Đất Nứơc.

II. THÂN BÀI:

1. Cảm nhận mới mẻ của nhà thơ về Đất Nước: (9 câu đầu)

- Nhà thơ đã lựa chọn một cái nhìn hợp lí, đất nước có mặt trong mỗi con người:

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước”.

Đất Nước không trừu tượng ở đâu xa xôi mà kết tinh, hoá thân ở ngay trong mỗi một con người, từ hình dáng, màu da giọng nói, cách ăn mặc cho đến những suy nghĩ, tình cảm đều mang đậm màu sắc dân tộc. Nói cách khác, mỗi con người Việt Nam đều được thừa hưởng một phần vật chất và tinh thần của đất nước do cha ông truyền lại.

- Đất Nước còn là sự hài hoà giữa nhiều mối quan hệ: cá nhân với cá nhân qua hình ảnh “hai đứa cầm tay” và quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng qua hình ảnh “khi chúng ta cầm tay mọi người”:

Khi hai đứa cầm tay

Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm

Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất Nước vẹn tròn, to lớn”

Hai mối quan hệ này hài hoà thống nhất với nhau. Động từ “cầm tay” chỉ hành động thân thiết, yêu thương, tin cậy. Những tính từ “hài hoà, nồng thắm, vẹn tròn to lớn” thể hiện sự ấm áp thiêng liêng của tình đoàn kết. Sự hoà quyện, gắn bó giữa cái riêng và cái chung, giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu Tổ quốc đã có nhiều nhà thơ đề cập đến:

Anh yêu em như yêu Đất Nước

Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần”

(Nguyễn Đình Thi)

Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ, như cha, như vợ, như chồng

Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”

(Chế Lan Viên)

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi”

(Giang Nam)

- Ba câu thơ tiếp theo thể hiện niềm tin vào tương đất nước:

Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang Đất Nước đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng”

+ Cái nhìn của nhà thơ hướng về viễn cảnh tươi sáng trong tương lai qua các từ ngữ và hình ảnh “mai này”, “lớn lên”, “đi xa”, “tháng ngày mơ mộng”.

+ Hai chữ “Đất Nước” được viết hoa trong toàn bộ đoạn trích nói chung và đoạn thơ nói riêng như một mĩ tự để thể hiện tình yêu và lòng kính trọng của nhà thơ dành cho đất nước.

2. Đây là những câu thơ có nhiệm vụ thức tỉnh lòng yêu nước của thế hệ thanh niên nói riêng và con người Việt Nam nói chung trong hoàn cảnh chống Mĩ ác liệt lúc đó:

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời”

+ Ông đã kêu gọi mọi người thực hiện trách nhiệm của mình đối với đất nước bằng giọng điệu tâm tình chứ không phải bằng giọng điệu hô hào, thuyết giảng. Cách xưng hô thân mật “Em ơi em” kết hợp với giọng thơ ngọt ngào của chất trữ tình đã tạo nên khả năng thuyết phục mọi người về mặt li trí lẫn tình cảm.

+ Điệp ngữ “phải biết” được lặp lại hai lần nghe như lời nhắn nhủ mọi người mà cũng là lời tự nhủ đối với bản thân về tinh thần trách nhiệm đối với đất nước.

+ Những từ ngữ, hình ảnh như “máu xương”, “gắn bó”, “san sẻ”, “hoá thân” giúp mỗi người nhận ra “Đất Nước là máu xương của mình” nên hi sinh cho đất nước không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ mà còn là hạnh phúc, là tiếng gọi thiêng liêng của mỗi trái tim. Trách nhiệm của tuổi trẻ, của mọi công dân là xây dựng, bảo vệ đất nước được trường tồn mãi mãi. Đó là chân lí vĩnh hằng của dân tộc.

+ Đoạn thơ thể hiện được sự phát triển từ nhận thức (“gắn bó”) đến hành động tự nguyện (“san sẻ”, “hoá thân”) của mỗi cá nhân và của cả một thế hệ xả thân vì đất nước.

III. KẾT BÀI:

- Đoạn thơ kết hợp một cách hài hoà yếu tố chính luận và màu sắc trữ tình. Đoạn thơ không hiện lên khô khan mà ngọt ngào như lời ru về đất nước.

- Đoạn thơ nói riêng và trường ca “Mặt đường khát vọng” nói chung đã góp vào kho tàng văn học dân tộc một khúc ca độc đáo vừa đậm chất hùng ca vừa đậm chất trữ tình về vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam thời chống Mĩ.

- Đoạn thơ cũng gợi lên trong lòng người đọc niềm tự hào và ý thức trách nhiệm lớn lao của mỗi công dân đối với đất nước cả trong thời chiến cũng như thời bình, nhất là trong thời đại mới hôm nay.


ĐỀ: Phân tích cảm hứng tình yêu trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh.

DÀN BÀI GỢI Ý:

I. MỞ BÀI:

- Giới thiệu sơ lược về nhà thơ Xuân Quỳnh: sinh năm 1942, mất 1988, để lại khoảng 10 tập thơ, trong đó có nhiều bài thơ tình.

- Bài thơ Sóng in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào (1968)

- Sóng là lời bày tỏ của nhà thơ, một người phụ nữ về tình yêu.

II. THÂN BÀI:

a. Nhìn sóng, cảm nhận về sóng để nhận ra chính mình.

- Thật ra, “sóng” không phải là hình tượng mới trong thơ.

+ Truyện Kiều:

Sóng tình dường đã xiêu xiêu

+ Ca dao:

Tình anh như nước dâng cao

Tình em như dải lụa đào tẩm hương…

+ Tuy nhiên, với nhà thơ đang khao khát bày tỏ tình yêu, không còn hình ảnh nào tốt hơn.

- Cảm nhận về những điều đối nghịch lạ lùng trong tình yêu cũng là của sóng:

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nỗi mình

Sóng tìm ra tận bể

- Cũng như sóng, tình yêu là thứ tình cảm muôn đời. Từ khi có biển là đã có sóng, từ khi có con người là đã có tình yêu. Còn có con người là còn có tình yêu:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

- Trong mọi điều khó ở đời, tình yêu là thứ tình cảm khó cắt nghĩa nhất, cũng như người ta không thể nào cắt nghĩa được:

Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?


Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau.

+ Câu thơ trả lời cho sóng cũng là câu trả lời cho tình yêu. Quy luật của sự sống là thế, nó nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người. Tình yêu như một thứ định mệnh của trời đất dành cho con người,

+ Những tình yêu lớn của nhân loại, những bi kịch của tình yêu cũng là từ những tình yêu như thế, nhưng đó mới là tình yêu đích thực: Kim Trọng và Thuý Kiều, Romeo và Juliet…

b. Nói về sóng, mượn sóng để bày tỏ tình yêu của mình.

- Tình yêu của mình là một tình yêu chân thành và mãnh liệt:

+ Tất cả mọi con sóng trên đại dương đều hướng vào bờ, bởi sóng sinh ra là để vỗ vào bờ:

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

+ Nói về sóng là để nói về mình:

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

- Tình yêu của mình là một tình yêu trọn vẹn, duy nhất:

Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh - một phương.

+ Trên con người đi lại xuyên đất nước, có hai phương để chọn: phương bắc và phương nam.

+ Trong tình yêu này, chỉ có một phương duy nhất: Phương anh

- Tình yêu của mình có sức mạnh để vượt lên mọi trở ngại.

Ở ngoài kia đại dương

Trăm ngàn con sóng đó


Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở.


+ Một tình yêu đích thực là phải biết vượt qua mọi khó khăn để giữ trọn tình yêu:

Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo

Ngũ lục sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua

- Nhà thơ nhận biết tình yêu của mình cũng giống với sóng, đủ sức mạnh để vượt lên muôn vàn cách trở, muôn vàn giông tố đến được với bờ.

c. Niềm khao khát cháy bỏng của người đang yêu.

- Bắt đầu nhận ra sự hữu hạn của cuộc đời và mọi thứ trong cuộc đời. Kể cả những thứ được coi là vô biên, vô hạn nhưng thật ra đều nhỏ bé và hữu hạn. Tình yêu cũng thật hữu hạn như thế chăng?

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa.

- Giữa mọi thứ hữu hạn ấy, trái tim này khát khao được trường tồn:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

+ Cò thể nhận ra vì sao nhà thơ lấy sóng làm hình tượng cho bài thơ.

+ Đây cũng chính là chỗ độc đáo nhất của bài thơ, điều mới mẻ mà nhà thơ đem đến cho người đọc thơ. Đây cũng chính là tư tưởng trung tâm, chủ đề của bài thơ.

+ Khao khát được tan ra, một khao khát mãnh liệt và cảm động. Đời người có thể hữu hạn nhưng tình yêu phải trường tồn, con người có thể mất đi nhưng tình yêu thì còn mãi.

+ Sau này, trong một bài thơ khác, bài Tự hát, Xuân Quỳnh còn nói rất rõ niềm khao khát.

Là máu thịt, đời thường ai chẳng có

Cũng ngừng lúc cuộc đời không còn nữa

Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   17

liên quan:

Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn THPT iconTÀI LIỆU ÔN THI TN THPT MÔN LỊCH SỬ LỚP 12

Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn THPT iconTÀI LIỆU ÔN TẬP THI TỐT NGHIỆP THPT

Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn THPT iconTÀI LIỆU ÔN TẬP THI TỐT NGHIỆP THPT

Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn THPT iconTÀI LIỆU ÔN THI TNTHPT VĂN 12 TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG

Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn THPT iconTài liệu ôn tập TN THPT và LT ĐH-CĐ-TCCN môn Vật Lý Chương trình chuẩn Trang

Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn THPT iconS Ở GD VÀ ĐT HẬU GIANG T RƯỜNG THPT TÂN PHÚ KẾ HOẠCH ÔN TẬP THI TỐT NGHIỆP THPT 2012

Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn THPT iconTài liệu hỗ trợ giáo viên THPT Quảng Ninh Quảng Ninh, tháng 3 năm 2009

Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn THPT iconPHƯƠNG PHÁP THU THẬP TƯ LIỆU CỦA NHÀ BÁO PHẦN TƯ LIỆU VÀ HOẠT ĐỘNG TƯ LIỆU TƯ LIỆU LÀ GÌ

Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn THPT iconĐơn vị: Trường THPT Nhơn Trạch

Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn THPT iconPHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN VÀ ƯU THẾ VẬN DỤNG VÀO DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12, THPT

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương