CHƯƠNG III CÔNG TÁC TƯ TƯỞNGTRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,CỨU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI




tải về 312.2 Kb.
TênCHƯƠNG III CÔNG TÁC TƯ TƯỞNGTRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,CỨU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
trang3/4
Chuyển đổi dữ liệu19.09.2012
Kích312.2 Kb.
loạiTài liệu
1   2   3   4
Dưới lá cờ vẻ vang. . . được tổ chức trong toàn Đảng đã nâng cao thêm nhận thức và niềm tin vào đường lối của Đảng, giúp cho cán bộ, đảng viên vận dụng vào giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn sản xuất và chiến dấu.

Tiếp theo đợt giáo dục chính trị cơ bản cho đảng viên, hai năm 1969 - 1970 hệ thống trường Đảng đã bồi dưỡng cho trên 5.000 cán bộ lãnh đạo cấp huyện và các ngành xung quanh tỉnh, 10.448 cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã về đường lối chống Mỹ, cứu nước, đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế (chủ yếu là nông nghiệp) và công tác xây dựng Đảng. Nhiều lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng đã được mở, phục vụ cuộc vận động nâng cao chất lượng Đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh (trong cuộc vận động này toàn Đảng đã kết nạp 39.644 đảng viên mới).

Tuy công tác giáo dục, bồi dưỡng nâng cao tư tưởng và năng lực công tác cho cán bộ, đảng viên đã có một số cố gắng, song nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và sự phát triển của phong trào cách mạng. Tháng 12-1970 Ban Tuyên huấn Trung ương xây dựng đề án, trình Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 210 về công tác chính trị và tư tưởng. Nghị quyết xác định nhiệm vụ của công tác giáo dục lý luận chính trị và tư tưởng là: "Nâng cao một bước quan trọng phẩm chất cách mạng, trình độ chính trị, năng lực vận dụng lý luận Mác - Lênin và đường lối chính sách của Đảng vào thực tiễn công tác, năng lực tổ chức và quản lý kinh tế cho cán bộ, đảng viên trước hết là cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành". Nội dung giáo dục lý luận chính trị và tư tưởng bao gồm những nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin và đường ối chính sách của Đảng. những hiểu biết cần thiết về đất nước và lịch sử Việt Nam, về thế giới hlện đại, những quan điểm của Đảng về các mặt công tác, nhất là về kinh tế, công tác Đảng và lịch sử Đảng ta. Để thực hiện nhiệm vụ đó, cần nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận cơ bản trong các trường Đảng và các trường lớp tại chức; xây dựng chế độ báo cáo thời sự chính sách; làm cho việc đọc sách báo của Đảng thành một thói quen một, nhu cầu hàng ngày trong nếp sống của cán bộ đảng viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và các cuộc hội nghị cán bộ các cấp; quy định chế độ cán bộ các cấp hàng năm có thời gian tham gia công tác thực tế ở các cơ sở sản xuất, chú trọng những điển hình tiên tiến và cả những cơ sở còn yếu kém. Nghị quyết 210 mở ra bước phát triên mới của công tác giáo dục chính trị và tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên. Các trường đảng tỉnh, thành phố được kiện toàn, trường Đảng huyện được xây dựng, lực lượng báo giáo viên thời sự, chính sách và lực lượng giảng viên lý luận được tăng cường, đầu tư cho công tác giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên tăng hơn trước. Tháng 6-1973 Nhà xuất bản sách giáo khoa Mác - Lênin trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương được thành lập để phục vụ phong trào học tập lý luận chính trị.

Chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng phụ thuộc một phần quan trọng vào chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên huấn. Năm 1969 Ban Tuyên huấn Trung ương tiến hành khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ của ngành, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn ngành các năm 1969 - 1975. Kết quả khảo sát cho thấy nhìn chung cán bộ tuyên huấn các cấp có phẩm chất chính trị tốt, nhiệt tình công tác, chịu khó học tập đường lối chính sách của Đảng, có ý thức tự rèn luyện để nâng cao năng lực nghiệp vụ. Tổng số cán bộ toàn ngành từ Trung ương đến huyện lúc đó là 6.760 (2.618 cản bộ làm báo, 1509 cán bộ huấn học, 1.280 cán bộ tuyên truyền, 350 cán bộ xuất bản…) so với biên chế thì thiếu 3.760, chủ yếu là cán bộ giảng dạy lý luận chính trị và cán bộ báo chí, xuất bản. Phần lớn cán bộ tuyên huấn các địa phương chưa được học tập lý luận cơ bản có hệ thống, trình độ văn hóa và kiến thức về các mặt còn hạn chế nhiều, về văn hóa phần lớn mới tốt nghiệp cấp III. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa có quy hoạch và không theo kịp nhu cầu. Sơ kết 10 năm 1959 - 1969 Trường Tuyên huấn Trung ương mở được 6 lớp đào tạo gồm 1.173 cán bộ (báo chí 584; giảng viên lý luận chính trị tuyên truyền 238), 35 lớp bồi dưỡng gồm 3.955 học viên. Đây là một cố gắng không nhỏ song còn xa so với nhu cầu. Phương hướng, mục tiêu đề ra là từng bước phấn đấu đến năm 1975 đào tạo bổ sung cho tuyên huấn các tỉnh, thành phố đủ biên chế cán bộ cả bốn bộ môn (tuyên truyền, huấn học, báo chí, xuất bản) mỗi huyện có năm cán bộ đã qua đào tạo nghiệp vụ: một phó trưởng ban, một huấn học, hai giảng viên trường đảng, một cán bộ tuyên truyền.

Bước đầu đề ra nhứng tiêu chuẩn chung của cán bộ tuyên huấn là:

- Có phẩm chất chính trị tốt, đã được học tập lý luận cơ bản, nắm vững có căn cử khoa học đường lối, chính sách của Đảng, trung thành với đường lối, quan điểm của Đảng.

- Có kiến thức tương đối toàn diện, về văn hóa đã tốt nghiệp cấp III, có khả năng viết và nói, có hiểu biết nhất định về kinh tế, kỹ thuật.

- Có quá trình công tác thực tiễn, được rèn luyện trong phong trào quần chúng.

Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm, vấn đề đào tạo bồi dưỡng cán bộ toàn ngành được đặt ra một cách đúng mức hơn, tạo điều kiện từng bước khắc phục những yếu kém, bất cập.

Năm 1971 miền Bắc bị lụt nặng trên diện tích lớn. Đây là trận lũ lớn nhất trong vòng 100 năm, gây thiệt hại nặng nề về sản xuất nông nghiệp, về giao thông vận tải, về tài sản của nhân dân và Nhà nước ở nhiều địa phương. Dưới sự lãnh đạo tích cực, khẩn trương của Đảng và Chính phủ, sự chỉ đạo của các đảng bộ và chính quyền địa phương, đông đảo nhân dân, bộ đội và cán bộ, đảng viên đã anh dũng chiến đấu khắc phục thiên tai. Nhờ vậy đã hạn chế dược tai họa của lũ lụt, thủ đô Hà Nội và các tỉnh hạ lưu sông Hồng như Nam Hà, Thái Bình được bảo vệ. Các hoạt động tư tưởng đã nêu cao những tấm gương dũng cảm hy sinh của nhân dân, bộ đội và cán bộ, đảng viên để bảo vệ đê điều, cứu người và tài sản, những hoạt động tích cực của các cấp, các ngành và phong trào quần chúng giúp đỡ lẫn nhau khắc phục hậu quả thiên tai, mau chóng khôi phục sản xuất, ổn định đời sống.

Tuy bị thiên tai nặng nề, năm 1971 miền Bắc vẫn đạt 5.6 triệu tấn lương thực, cao hơn mức bình thường của các năm, giá trị tổng sản lượng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt kế hoạch. Số chiến sĩ lên đường vào Nam chiến đấu bằng 15 lần năm 1970. Bộ đội Trường Sơn đã phát triển thành một binh đoàn chiến lược hùng mạnh, tuyến vận tải Bắc - Nam đã trở thành hệ thống liên hoàn, ngoài tuyến đường bộ, cuối năm 1971 đường ống dẫn xăng dầu dài hơn 1000km đã hoàn thành, đây là thành tựu mới của tinh thần dũng cảm, không quản hy sinh xương máu của các chến sĩ bộ đội và thanh niên xung phong. Trong chiến tranh ác liệt, lực lượng các binh chủng trên mặt trận tư tưởng tiếp tục phát triển, ngày 7-9- 1971 Đài Truyền hình Việt Nam lần đầu tiên phát sóng chương trình thử nghiệm.

Để phát huy thành tựu năm 197l và động viên phong trào quần chúng thực hiện nhiệm vụ năm 1972, thi hành chỉ thị của Ban Bí thư, tháng 12- 197 l và tháng 1-1972 các cấp ủy đảng chỉ đạo tiến hành đợt báo công, lập công trong nhân dân, tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng và Nhà nước. Từ kết quả của đợt này cùng với những kết quả đã tiến hành trong các năm 1967 - 1970, các ngành, các địa phương đánh giá báo công, lập công là một hình thức công tác chính trị, tư tưởng, công tác vận động quần chúng phù hợp với quan điểm của Đảng: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, mọi thành tựu của cách mạng là công lao của quần chúng. Qua báo công, lập công quần chúng tự giáo dục mình và giáo dục lẫn nhau nâng cao thêm lòng tự hàó về Tổ quốc ta, nhân dân ta, về sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, hiểu rõ hơn ý nghĩa mỗi việc mình làm và công lao, sức mạnh của tập thể, phấn khởi thi đua lập công mới.

Tháng 2- 1972 Níchxơn tiến hành những hoạt động ngoại giao xảo quyệt hòng cô lập Việt Nam, bóp nghẹt cuộc kháng chiến của quân và dân ta. Căn cứ nghị quyết và chủ trương của Đảng, công tác tư tưởng đã kịp thời vạch rõ mưu đồ xảo quyệt của Mỹ, chúng sẽ tăng cường và mở rộng quy mô của cuộc chiến tranh, nhưng cuối cùng chúng sẽ thất bại; khẳng định quyết tâm không gì lay chuyển được của quân và dân ta là đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn đối phó mới của địch. Hành động ngoại giao xảo quyệt của Mỹ và những hành động mở rộng chiến tranh của chúng đối với miền Bắc chỉ làm nung nấu thêm chí căm thù và quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta. Mọi hoạt động chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược mới được đẩy mạnh đi đôi với sằn sàng đánh bại địch nếu chúng nem bom bắn phá trở lại hoặc mở rộng chiến tranh trên bộ ra miền Bắc.

Trước nguy cơ chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" bị đổ vỡ, Níchxơn hung hãn đến điên cuồng. Đồng thời với phản kích quyết liệt trên chiến trường Nam Việt Nam, từ ngày 6-4-1972 Mỹ ném bom bắn phá trở lại miền Bắc và từ ngày 8-5-1972 thả thủy lôi phong tỏa các cảng biển, cảng sông của ta, hòng cắt đứt nguồn tiếp tế từ ngoài vào và đường vận chuyển Bắc-Nam. Trong chiến tranh phá hoại lần trước chúng leo thang từng bước. Lần này chúng hành động nhanh và quyết liệt ngay từ đầu, sử dụng lực lượng máy bay, tàu chiến lớn hơn, đánh tập trung, liên tục vào Hà Nội, Hải Phòng, các khu công nghiệp và trọng điểm giao thông, đảnh phá dã man nhiều vùng dân cư, cả bệnh viện, trường học, chặn các "cổ họng" tiếp tế, hòng gây sức ép lớn buộc ta phải khuất phục.

Quân và dân miền Bắc đã chuẩn bị sẵn sàng, bình tĩnh bước vào cuộc thử thách mới quyết liệt và phức tạp hơn nhanh chóng sơ tán dân và các cơ sở sản xuất, chuyển mọi hoạt động sang thời chiến, đánh thắng địch ngay từ trận đấu chúng trở lại đánh phá, cả ở Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hải Phòng, Hà Nội… Tuy vậy, ta cũng có thêm những khó khăn mới, hàng chục ngàn đồng bào bị thương vong, sự đánh phá và phong tỏa của địch lúc đầu đã hạn chế khá lớn việc tiếp nhận hàng viện trợ và đưa hàng vào Nam. Song nhờ sự lãnh đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước, tinh thần dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của bộ đội, các nhà khoa học và anh chị em công nhân chúng ta đã có nhiều cách có hiệu quả phá nhiễu, bắn rơi máy bay B52, rà phá thủy lôi, mở đường vận chuyển, bảo đảm về cơ bản việc tiếp nhận hàng từ ngoài vào và đưa hàng vào Nam, đẩy mạnh cuộc tiến công chiến lược suốt năm 1972. Các hoạt động tư tưởng, trong đó báo chí là lực lượng xung kích, với đội ngũ phóng viên (tin ảnh, quay phim) nhanh nhạy, xông xáo, dũng cảm đã bám sát cuộc chiến đấu hào hùng của quân và dân ta, bảng trí tuệ và sức mạnh của cả dân tộc, được sự ủng hộ của loài người tiến bộ, quyết thắng tên hung nô của thời đại. Địch đánh phá quyết liệt nhưng báo chí từ Thủ đô vẫn phát hành thường xuyên tính chiến đấu được nâng cao, đài phát sóng bị B52 dội bom nhiều lần nhưng Tiếng nói Việt Nam vẫn vang lên đều đặn, đến với thính giả trong nước và trên thế giới.

Bọn hiếu chiến Mỹ điên cuồng trong đánh phá, đồng thời ngoan cố, tráo trở trong thương lượng. Sau khi trúng cử Tổng thống Mỹ trong nhiệm kỳ mới, Níchxơn lật lọng tất cả những điều đại diện chính quyền Mỹ đã thỏa thuận với đại diện phái đoàn ta tháng 10-1972. Căn cứ tuyên bố của Chính phủ ta ngày 26-10-1972, các hoạt động tuyên truyền đã lập tức nêu cao lập trường đúng đắn của ta, vạch trần sự tráo trở, lật lọng của Mỹ trước dư luận trong nước và quốc tế, góp phần động viên mạnh mẽ làn sóng đấu tranh đòi Mỹ phải ký ngay dự thảo hiệp định, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam; đã kịp thời phổ biến trong nhân dân và các lực lượng vũ trang nhận định của Bộ Chính trị chỉ rõ âm mưu của Mỹ tiếp tục kéo dài chiến tranh trong một thời gian nữa để giành thắng lợi về quân sự nhằm kết thúc chiến tranh trên thế mạnh, giáo dục nâng cao cảnh giác đối với những hành động ch;ến tranh mới của chúng. Miền Nam phải tiếp tục phát triển tiến công, miền Bắc phải sẵn sàng chiến đấu đến mức cao nhất và rút kinh nghiệm đánh B52 có hiệu quả hơn, thắng lớn hơn.

Ngày 14-12- 1972 Nichxơn quyết định mở cuộc tập kích B52 vào Hà Nội. Cuộc tiến công này là đỉnh cao trong chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc nước ta, huy động lớn nhất số máy bay chiến lược B52, mục tiêu đánh phá chủ yếu nhằm vào Hà Nội, trung tâm chính trị của cả nước, nơi đóng bản doanh của cơ quan đầu não chỉ huy cuộc kháng chiến. Với thế trận sẵn sàng, trong 12 ngày đêm chiến đấu (từ 18 đến 29-12), bộ đội phòng không - không quân, quân dân Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương đã anh dũng đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ, bắn rơi 81 máy bay hiện dại trong đó có 34 máy bay B52 (riêng Hà Nội bắn rơi 25 chiếc), diệt và bắt sống hàng trăm giặc lái. Bị thua đau, ngày 30-12-1972 chính quyền Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấm dứt hoàn toàn vào ngày 15- 1-1973.

Cùng với việc liên tục đưa tin chiến thắng oanh liệt của quân dân ta, các hoạt động tư tưởng đã nêu bật tầm vóc vĩ đại của nó: .

Về quân sự, đây là một chiến dịch phòng không đạt tới mức tiêu diệt cao nhất, oanh liệt nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc cũng như trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Đây cũng là một chiến dịch đầu tiên trên thế giới tiêu diệt lớn máy bay chiến lược B52 của Mỹ giáng cho không quân chiến lược Mỹ đòn thất bại nặng nề nhất trong lịch sử xâm lược của nó. Chiến thắng đó đã nhấn chìm ý đồ "đàm phán trên thế mạnh" của Mỹ. Chính vì vậy nhân dân ta gọi đây là trận "Điện Biên Phủ trên không". Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" là đòn quyết định buộc Mỹ phải xuống thang và kết thúc cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc nước ta. Chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc là một bộ phận quan trọng trong chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Thắng lợi của quân dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại của Mỹ cùng với thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam đã làm phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và "Mỹ hóa" trở lại cuộc chiến tranh của bọn hiếu chiến Mỹ.

- Về chính trị, thắng lợi của quân và dân ta đánh thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ có ý nghĩa quốc tế to lớn, chứng tỏ Mỹ không phải là vô địch, động viên mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ. Phong trào lên án Níchxơn và đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam bùng lên trên thế giới và trong nước Mỹ.

Trong hoàn cảnh lịch sử đó, ngày 27-1-1973 tại Pari chính quyền Mỹ bụộc phải ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Thắng lợi cơ bản mà nhân dân ta đạt được trong việc ký kết hiệp định trước hết là Mỹ và các nước khác phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Mỹ phải rút quân và chấm dứt mọi sự dính líu quân sự vào miền Nam Việt Nam và phải chấp nhận sự tồn tại của bộ đội chủ lực ta ở miền Nam. Với việc hiệp định được ký kết, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã giành được thắng lợi rất vẻ vang. Đây là thắng lợi rất to lớn trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc Việt Nam ta.

c) Động viên quân dân cả nước thừa thắng xốc tới giải phóng hoàn toàn miền Nam 1973 - 1975

Phải ký Hiệp định Pari, rút quân về nước nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố duy trì chế độ thực dân mới ở miền Nam Việt Nam. Trước khi ký Hiệp định, Mỹ đã đưa vào miền Nam Việt Nam một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh và chỉ huy quân ngụy vào ra cắm cờ lấn đất ở nhiều nơi. Hiệp định vừa được ký kết, chúng mở ngay chiến dịch "tràn ngập lãnh thổ", triển khai các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng và các vùng giáp ranh hòng xóa "thế da báo". Mục tiêu của chúng là giành đất, giành dân, tiêu diệt lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của cách mạng, xóa bỏ tình trạng thái chính quyền, hai quân đội, ba lực lượng, biến miền Nam Việt Nam thành lãnh thổ chỉ có một chính quyền tay sai Mỹ. Từ sau hiệp định Pari, miền Nam Việt Nam không có lấy một ngày hòa bình.

Về phía ta, trước khi Hiệp định Pari được ký kết, Bộ Chính trị đã dự kiến "tình hình có thể phát triển theo hai khả năng: hoặc giữ được hòa bình, hoặc chiến tranh trở lại, không thể có ảo tưởng địch sẽ thi hành một cách nghiêm chỉnh vì chúng lo ngại trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn". Sau khi Hiệp định được ký kết, đồng thời với tuyên truyền thắng lợi các hoạt động tư tưởng đã chú trọng phổ biến Lời kêu gọi ngày 28- 1-1973 của Trung ương Đảng và Chính phủ nhận định: Những thế lực quân phiệt, phát xít, công cụ của chủ nghĩa thực dân mới đi ngược lại nguyện vọng của dân tộc ta vẫn chưa từ bỏ nhung âm mưu phá hoại hòa bình, ngăn trở con đường độc lập, tự do của nhân dân ta. Vì vậy, nhân dân cả nước phải tăng cường đoàn kết, đề cao cảnh giác, củng cố những thắng lợi đa giành được, hoàn thành độc lập, dân chủ ở miền Nam…

Sau thắng lợi "đánh cho Mỹ cút", cách mạng miền Nam đứng trước tình thế mới với những thuận lợi rất cơ bản. Song những khó khăn sau cuộc tiến công chiến lược năm 1972, tổn thất về quân số về tổ chức và về vật chất chưa được bổ sung và củng cố. Những nơi cán bộ lãnh đạo quán triệt tư tưởng tiến công, cảnh giác sẵn sàng chiến đấu thì ở nơi đó đồng bào, chiến sĩ phát huy được khí thế chiến thắng, kiên trì bám trụ, giữ cờ, giữ đất, đánh lui các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, bảo vệ được thành quả cách mạng. Nhưng một số nơi, cán bộ, đảng viên chưa thấu triệt tư tưởng tiến công và quan điểm cách mạng bạo lực, có tư tưởng mệt mỏi, nghỉ ngơi, ảo tưởng hòa bình, chủ quan mất cảnh giác, hy vọng trông chờ vào khả năng đối phương phải thi hành Hiệp định. Vì vậy mà chậm phát hiện âm mưu ấn chiếm của địch, đối phó bị động và kém hiệu quả, có nơi không chỉ chập chờn, co thủ "sợ vi phạm Hiệp định", mà còn rút bỏ cả "lõm” giải phóng, tự mình xóa "thế da báo". Do đó, trong những tháng đầu năm 1973 địch đã lấn chiếm dược hầu hết những vùng mới giải phóng và cả một số nơi thuộc vùng giải phóng cũ. Tình hình đó cho thấy, trong cuộc chiến đấu một mất một còn với quân thù, khi thắng lợi cũng như lúc cách mạng gặp khó khăn, lãnh đạo phải
1   2   3   4

liên quan:

CHƯƠNG III CÔNG TÁC TƯ TƯỞNGTRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,CỨU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI iconNGÀNH Y TẾ KON TUM TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1954-1975)

CHƯƠNG III CÔNG TÁC TƯ TƯỞNGTRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,CỨU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI iconChương I NGÀNH Y TẾ TỈNH KON TUM GIAI ĐOẠN KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

CHƯƠNG III CÔNG TÁC TƯ TƯỞNGTRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,CỨU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI iconĐẢNG BỘ TỈNH LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

CHƯƠNG III CÔNG TÁC TƯ TƯỞNGTRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,CỨU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI iconTRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VỀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

CHƯƠNG III CÔNG TÁC TƯ TƯỞNGTRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,CỨU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI iconĐẢNG BỘ THỦ DẦU MỘT LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 – 1954)

CHƯƠNG III CÔNG TÁC TƯ TƯỞNGTRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,CỨU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI iconTHỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS TRONG CÔNG TÁC AN TOÀN TRUYỀN MÁU Ở NƯỚC TA ĐẾN NĂM 2010 VÀ TẦM NHÌN 2020

CHƯƠNG III CÔNG TÁC TƯ TƯỞNGTRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,CỨU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI iconPhân tích giá trị lịch sử tư tưởng chính trị ở phương tây thời kỳ cổ đại và cận đại. Những giá trị đó có tác dụng gì với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

CHƯƠNG III CÔNG TÁC TƯ TƯỞNGTRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,CỨU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI iconCƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

CHƯƠNG III CÔNG TÁC TƯ TƯỞNGTRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,CỨU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI iconXây dựng nội dung cuốn sổ tuyên truyền về công tác phòng, chống tham nhũng: “Quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng”

CHƯƠNG III CÔNG TÁC TƯ TƯỞNGTRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,CỨU NƯỚC VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI iconVề một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương