MỤC LỤC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM




tải về 124.97 Kb.
TênMỤC LỤC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu19.09.2012
Kích124.97 Kb.
loạiTài liệu
  1   2   3

GV: Trương Chí Tiến Quản trị Chất Lượng Sản Phẩm

MỤC LỤC

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM


PHẦN MỞ ĐẦU



  1. Lý do chọn đề tài:

Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng và lợi thế rất lớn về sản xuất lúa gạo. Ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam đã gắn liền với truyền thống lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, gắn liền với nền văn minh lúa nước của dân tộc Việt Nam. Cây lúa, hạt gạo đã có vị trí rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống của mỗi người Việt Nam chúng ta. Cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ lực với sản lượng chiếm trên 90% sản lượng cây lương thực có hạt, liên quan đến việc làm và thu nhập khoảng 80% số hộ nông dân Việt Nam. Lúa gạo hiện cung cấp tới 70% năng lượng trong khẩu phần ăn của người dân. Và vì vậy, cây lúa, hạt gạo luôn có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia

Trong 20 năm qua, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam đã tăng gấp hai lần. Hiện nay, năng suất bình quân đạt 5,3 tấn/1 ha một vụ. Sản lượng cả năm đạt gần 39 triệu tấn. Sản xuất lúa gạo phát triển đã đưa Việt Nam từ một nước nhiều năm triền miên thiếu lương thực trở thành một nước không những có đủ lương thực cho nhân dân với mức tăng dân số mỗi năm khoảng một triệu người, bảo đảm an ninh lương thực của đất nước trong mọi tình huống mà còn trong 21 năm qua xuất khẩu với số lượng trên 74 triệu tấn gạo, mang về cho đất nước gần 20 tỉ đô la Mỹ, trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 của thế giới.

Ngày nay, trong nông nghiệp vấn đề về “chất lượng nông sản“ là một vấn đề nóng bỏng và được nhiều người quan tâm. Trong các mậu dịch gạo quốc tế, cũng giống như những mặt hàng khác, thì chất lượng gạo luôn gắn liền với hiệu quả xuất khẩu và cũng là công cụ cạnh tranh hàng đầu hiện nay, đặc biệt khi xuất khẩu sang các nước phát triển và các nước Nic thì đòi hỏi chất lượng phải đạt tiêu chuẩn như: hình dáng và kích cỡ hạt gạo, dinh dưỡng cao, mùi vị, màu sắc, tỷ lệ hạt bạc bụng…Nhưng hiện nay, gạo Việt Nam xuất khẩu sang thị trường bên ngoài vẫn còn giá trị thấp và kém chất lượng. Nguyên nhân dẫn đến chất lượng kém đó là do sự ảnh hưởng của công đoạn trong khâu canh tác và thu hoạch lúa như: thời điểm thu hoạch, cắt, tách hạt, vận chuyển, phơi sấy, chế biến…từ đó đã dẫn đến thất thoát và giảm chất lượng. Vì vậy việc nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu cần được mở rộng và phát triển nhanh hơn khi bước vào thị trường thế giới trong thời kì hội nhập hiện nay.

Để tìm hiểu nguyên nhân đạt được những thành tựu trong thời gian qua và những khó khăn về chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, chúng tôi thực hiện đề tài “PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM” tại ĐBSCL.



  1. Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: tìm hiểu và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.

  • Mục tiêu cụ thể:

+ Mục tiêu 1: Tìm hiểu thực trạng việc sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2007 – Quí 3/2009 và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng gạo xuất khẩu Việt Nam.

+ Mục tiêu 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.

+ Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.

  1. Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu chất lượng gạo xuất khẩu tại ĐBCL.

  • Phạm vi thời gian: Số liệu sử dụng chủ yếu trong đề tài được thu thập từ năm 2007 đến Quí 3 - 2009, các báo cáo kim ngạch xuất khẩu gạo.

  • Phạm vi về nội dung: tìm hiểu và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng gạo xuất khẩu Việt Nam.

  1. Phương pháp nghiên cứu:

    1. Phương pháp thu thập số liệu:

Chủ yếu thu thập thông tin thứ cấp qua Internet, các đề tài liên quan.

    1. Phương pháp phân tích số liệu.

+ Mục tiêu 1: Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp tìm hiểu thực trạng việc sản xuất và xuất khẩu gạo Việt Nam năm 2007 – Qui 3/2009 và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng gạo xuất khẩu Việt Nam.

+ Mục tiêu 2: Dùng phương pháp luận để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.

+ Mục tiêu 3: Dùng phương pháp luận và thảo luận nhóm để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.

  1. Tài liệu tham khảo:

Nguyễn Trung Vãn (2001). Lúa Gạo Việt Nam Trước Thiên Niên Kỷ Mới Hướng Xuất Khẩu, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội.

Lê Doãn Diên (2004). Công Nghệ Sau Thu Hoạch. Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội.

http://vndgforcus.vietnamgateway.org/show.php?lang=viet&id=11&act=event

http://www.ppd.gov.vn/ttbaochi/lua-sbhai/ttbaochi13.htm


PHẦN NỘI DUNG



  1. Tìm hiểu thực trạng việc sản xuất và xuất khẩu gạo Việt Nam năm 2007 - Quí 3/2009 và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng gạo Việt Nam

  1. Diện tích, sản lượng lúa và kim ngạch xuất khẩu gạo trong giai đoạn năm 2007 - Quí 3/2009

  • Tình hình trong nước:

Trong vụ lúa đông xuân năm 2008 - 2009, cả nước gieo cấy gần 3,1 triệu ha, tăng 46.600 ha; năng suất bình quân đạt 60,9 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha; sản lượng đạt hơn 18,6 triệu tấn, tăng 312.000 tấn so với vụ đông xuân trước. Tại đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) là 1,5 triệu ha tăng 20.000 ha so với cùng kỳ năm trước, sản lượng lúa đạt 9,8 triệu tấn, tăng 23 nghìn tấn. Các tỉnh đang đề nghị giao chỉ tiêu xuất khẩu gạo của năm nay ở mức 5,5- 6 triệu tấn. Nét mới trong vụ sản xuất lúa đông xuân năm nay ở vùng ÐBSCL là các địa phương đã đẩy mạnh việc thay đổi cơ cấu giống lúa theo hướng giảm diện tích trồng lúa năng suất cao, chất lượng thấp khó xuất khẩu chuyển sang trồng giống lúa có năng suất thấp hơn nhưng chất lượng gạo tốt, xuất khẩu thuận lợi, được giá. Các địa phương tập trung đầu tư sản xuất một số giống đặc sản truyền thống phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa.

Tính đến 5/2009, cả nước còn khoảng 10,2 triệu tấn lúa (tương đương 5,1 tấn gạo) để xuất khẩu, cao hơn năm ngoái 18%. Kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đạt 1,2 tỷ USD, với giá bình quân 411 USD mỗi tấn. Chỉ tính trong 3 ngày đầu tháng 6, các doanh nghiệp đã giao thêm 100.000 tấn, nâng tổng lượng xuất từ đầu năm lên hơn 3 triệu tấn. Gạo tồn kho trong các doanh nghiệp lên tới 1,377 triệu tấn gạo, trong 6/2009 xuất khẩu được 650.000 tấn, nâng lượng gạo xuất khẩu 6 tháng đầu năm nay lên 3,708 triệu tấn, tăng 57% so với cùng kỳ năm 2008. Số lượng hợp đồng đã đăng ký qua VFA tới ngày 31-5 là 4,1 triệu tấn, vượt mức giao hàng trong 6 tháng đầu năm, phải chuyển sang giao trong tháng 7.

Tuy nhiên, nhiều người đang lo lắng về diễn biến thị trường hiện nay. Giá lúa trong dân đang dao động 4.300- 4.400 đồng/kg, có nơi giảm 500 đồng/kg, không đảm bảo lợi nhuận cho bà con. Tình trạng bán phá giá lại tái diễn, do doanh nghiệp lo ngại thị trường còn xuống nữa.

Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng tìm ra doanh nghiệp bán phá giá không phải là vấn đề dễ dàng. Vì vậy, cần tạo cơ chế xuất nhập khẩu minh bạch và trách nhiệm hơn. Hiệp hội Lương thực Việt Nam cần sửa đổi quy chế quản lý xuất khẩu gạo, khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường mới, nhưng nghiêm cấm bán phá giá.

Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, tính đến hết tháng 11/2009, Việt Nam đã xuất khẩu được 5,6 triệu tấn gạo, đạt giá trị 2 tỷ 266 triệu USD, tăng 33% về số lượng, nhưng lại giảm 7,7% giá trị so với cùng kỳ năm 2008. Đó là điều được nhận ra rất sớm khi liên tục những tháng đầu năm 2009 khi giá gạo vào thời điểm khá thấp, có lúc chỉ còn 365 USD một tấn gạo 5% tấm. Nếu tính bình quân giá xuất khẩu chỉ đạt 404,69 USD một tấn, giảm 180,86 USD so với năm 2008. Một dự báo thị trường xuất khẩu gạo 2010 tốt sẽ giúp giá cả tăng lên và người làm ra hạt lúa cũng thu lợi khá hơn. Các chuyên gia cho rằng đây cũng là thời cơ để nâng giá trị hạt gạo Việt Nam

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), tồn kho gạo nhiều nhất thuộc về tổng công ty Lương thực Miền Nam với 592.000 tấn, tổng công ty Lương thực Miền Bắc 130.000 tấn còn lại là các doanh nghiệp khác hơn 650.000 tấn.

Hình 1: Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam đi các thị trường

Năm 2007 - 2008 (%)



Nguồn: AGROINFO, tính theo Tổng cục Hải quan

Hình 2: Top 10 thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất từ Việt Nam, 2008



Nguồn: AGROINFO, tính theo Tổng cục Hải quan

  • Tình hình thế giới:

Sản lượng gạo thế giới 2008/09 đạt mức 439,7 triệu tấn (gạo trắng), cao hơn 2% so với 2007/08. Sản lượng gạo thế giới đạt mức cao kỷ lục do mở rộng diện tích canh tác, khoảng 155,8 ha. Năng suất trung bình là 4,2 tấn/ha, không thay đổi so với năm 2007/08. Chủ yếu là từ Philippines. Sản lượng gạo Philippines năm 2008/09 tăng 0,45 triệu tấn lên mức kỷ lục 10,65 triệu tấn do năng suất tăng cao. Trong niên vụ 2008/09, hầu hết các nhà xuất khẩu gạo lớn trên thế giới đều tăng sản lượng so với niên vụ trước, trừ Việt Nam sản lượng là giảm nhẹ. Các nước xuất khẩu tầm trung như Achentina, Uruguay và Campuchia cũng tăng sản lượng trong niên vụ này. Hầu hết các nhà nhập khẩu gạo lớn trên thế giới có ý định tăng sản lượng lên mức kỷ lục như Nam sa mạc Sahara, Philippines, Băng la đét, Inđônêxia và Malaysia. Riêng Iran và Irắc có thể giảm mạnh sản lượng do hạn hán.

Dự trữ gạo thế giới năm 2008/09 khoảng 84,6 triệu tấn, tăng 7% so với năm 2007/08. Dự trữ gạo thế giới đang ở mức cao nhất kể từ năm 2002/03. Đây là năm thứ 2 liên tiếp lượng dự trữ gạo thế giới tăng lên đáng kể. Tỷ lệ dự trữ/tiêu dùng khoảng 19,5%, tăng 18,4% so với năm 2007/08, và đạt mức cao nhất kể từ niên vụ 2003/04. Ấn Độ và Thái Lan là hai nước tăng chủ yếu lượng gạo dự trữ của mình.

Bên cạnh đó, tiêu thụ gạo thế giới năm 2008/09 ở mức 434,1 triệu tấn, tăng 1% so với năm 2007/08. Các nước Myanmar, Ấn Độ và Philippines sẽ giảm lượng tiêu dùng gạo nội địa.

Thương mại gạo toàn cầu năm 2009 đạt 29,5 triệu tấn (gạo trắng), giảm 1% so với năm 2008 và giảm 7% so với mức kỷ lục năm 2007. Giá cao và ảnh hưởng từ chính sách hạn chế, cấm xuất khẩu là nguyên nhân cơ bản làm giảm thương mại gạo toàn cầu giảm từ năm 2007 tới nay.

Những thay đổi trong xuất khẩu gạo năm 2009:

  • Do quan ngại từ cơn sốt giá gạo và khủng hoảng thiếu về gạo năm 2008 nên hầu hết các quốc gia đều gia tăng sản lượng hoặc gia tăng dự trữ lương thực quốc gia. Do đó, nhu cầu nhập khẩu gạo trên thế giới sẽ không tăng cao hơn nguồn cung. Đây là áp lực khiến giá gạo không thể tăng cao, nhiều khả năng sẽ trong xu hướng giảm trong năm 2009.

  • Xuất khẩu gạo Thái giảm 500.000 tấn xuống 9 triệu tấn, do phải cạnh tranh với gạo Việt khi Việt Nam thu hoạch vụ đông xuân và cạnh tranh với gạo Ấn Độ khi nước này dỡ bỏ lệnh cấm xuất gạo non-basmati. Giá gạo Thái hiện đang thấp hơn gạo Việt và gạo Pakistan.

  • Xuất khẩu gạo Mỹ dự đoán giảm 50.000 tấn xuống mức 3,2 triệu tấn, do nhu cầu nhập khẩu gạo từ Mỹ chững lại cuối năm 2008.

  • Riêng Myanmar tăng lượng xuất khẩu thêm 300.000 tấn lên 500.000 tấn

  • Ấn Độ tăng lượng xuất khẩu thêm 200.000 tấn lên mức 2,5 triệu tấn.

  1. Thực trạng chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua

Tình hình xuất khẩu gạo:

Trung tuần tháng 1/2009, tại ĐBSCL giá lúa mới ổn định ở mức 3.800-4.000 đ/kg, gạo nguyên liệu loại: 5.300 đ/kg, các gạo thành phẩm xuất khẩu khác đều ổn định so với tuần trước: thành phẩm 5%: 6.300 đ/kg, thành phẩm 25%: 4.900 đ/kg. Trong khi đó, giá gạo 5% xuất khẩu của nước ta tăng lên 400 USD/T, tăng trung bình 15 USD/T gạo 25% cũng tăng mạnh thêm 35 USD/T, lên 370 USD/T.

Năm 2008 là năm có nhiều biến động mạnh trong hoạt động xuất khẩu gạo, có lúc giá gạo xuất khẩu của nước ta đã tăng lên tới 1.050 USD/T. Nguyên nhân giá gạo tăng đột biến là do lạm phát cao khiến chính phủ các nước xuất khẩu gạo hạn chế xuất khẩu để ổn định tình hình trong nước. Nhưng bắt đầu từ tháng 6/2008 giá gạo đã giảm nhanh do Thái Lan và Việt Nam bắt đầu vào vụ thu hoạch và nối lại hoạt động xuất khẩu gạo. Theo số liệu thống kê, trong tháng 12/2008, cả nước xuất khẩu được 400 nghìn tấn gạo với trị giá 180 triệu USD, tăng 37% về lượng và tăng 30,9% về trị giá so với tháng 11/2008; tăng 270% về lượng và tăng 230% về trị giá so với cùng kỳ năm 2007. Như vậy, năm 2008 xuất khẩu của nước ta đạt 4,7 triệu tấn (năm 2008 Việt Nam đã ký hợp đồng xuất khẩu được 5,1 triệu tấn gạo) với kim ngạch 2,9 tỉ USD, tăng 3,6% về lượng và tăng tới 94,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2007.

Theo số liệu hải quan, trong năm 2008, gạo của nước ta được xuất khẩu sang 121 thị trường và vùng lãnh thổ, nhiều hơn tới 40 thị trường so với năm 2007. Trong đó, cả nước có tất cả 165 đơn vị tham gia xuất khẩu gạo, nhiều hơn 60 đơn vị so với năm 2007.

Cuộc khủng hoảng sẽ khiến nhu cầu gạo tăng bởi gạo vẫn là lương thực chính toàn cầu, nên để tránh rủi ro hiện các nước đang tăng cường dự trữ lương thực nhằm đảm bảo an ninh lương thực, ngay cả nước xuất khẩu gạo lớn như Thái Lan, Ấn Độ cũng đang hạn chế xuất khẩu mặt hàng này.

Tháng 7/2009, xuất khẩu gạo cả nước chỉ đạt 489,4 nghìn tấn, giảm 15,7% về lượng và giảm 22,5 % về trị giá so với tháng trước. Lượng gạo của Việt Nam xuất sang hầu hết các châu lục đều tăng trên 30% so với cùng kỳ năm 2008 (trừ Châu Mỹ). Trong đó, lượng gạo xuất khẩu sang Châu Á đạt 2,56 triệu tấn, tăng 34% và chiếm 60,6% tổng lượng xuất khẩu gạo của cả nước; sang châu Phi: 933 nghìn tấn, tăng 112%; sang châu Mỹ: 359 nghìn tấn, giảm 18%; sang Châu Đại Dương: 211 nghìn tấn, tăng mạnh 258%; sang châu Âu: 158 nghìn tấn, tăng 90,6% so với cùng kỳ năm 2008.

Bên cạnh đó, đơn giá xuất khẩu bình quân của mặt hàng này đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm, chỉ đạt 410 USD/tấn (giảm 18,2% so với tháng 5, thời điểm đạt giá cao nhất). Tính đến hết tháng 7, xuất khẩu gạo của Việt nam đã đạt 4,2 triệu tấn, tăng 44,1% so với cùng kỳ năm 2008.


Biểu đồ 3: Giá bình quân và lượng xuất khẩu gạo 7 tháng năm 2009



Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của hạt gạo:

  • 8 tiêu chuẩn đánh giá chất lượng gạo: 

1. Kích thước hạt gạo:

Bảng : Phân loại hình dạng các tiêu chuẩn hạt gạo

Kích thước

Chiều dài (mm)

Cấp độ

Hình dạng

Tỷ lệ dài/rộng

Cấp độ

Dài nhất

> 7.50

1

Thon

> 3.0

1

Dài

6.61-7.50

3

Trung bình

2.1-3.0

3

Trung bình

5.51- 6.60

5

Hơi tròn

1.1- 2.0

5

Ngắn

< 5.50

7

Tròn

< 1.1

7

Nguồn: Jenníng et al., (1979)

 2. Màu của vỏ cám: Màu vỏ cám bao gồm màu trắng, nâu sáng, nâu tối, nâu, đỏ, tím sáng và tím.

3. Mức độ bạc bụng: Mức độ bạc bụng của hạt gạo được chia như sau:

  • Cấp 0: Không bạc bụng

  • Cấp 1: Vùng bạc bụng ít hơn 10% ở trong hạt gạo

  • Cấp 5: Diện tích bạc bụng trung bình 11- 20%

  • Cấp 9: Hơn 20%.

4. Chất lượng xay chà: Yếu tố này bao gồm phần trăm gạo lức, gạo trắng và gạo nguyên.

                   Gạo lức (%) =         Trọng lượng hạt lúa không vỏ            x   100

                                        Trọng lượng lúa   

          Gạo trắng (%) =      Trọng lượng gạo sau khi chà và đánh bóng   x   100

                                               Trọng lượng lúa     

 

          Gạo nguyên (%) =    Trọng lượng gạo nguyên (không gãy)    x   100

                                                  Trọng lượng lúa  

5. Chất lượng cơm: Chất lượng gạo được nấu gồm hàm lượng amylose,  nhiệt độ trở hồ và độ bền gel. Tiêu chuẩn Quốc tế về hàm lượng amylose như sau:

  • 0 - 2% Gạo dẻo

  • 2 - 20% Gạo mềm (hàm lượng amylose thấp)

  • 20 - 25% Gạo mềm (hàm lượng amylose trung bình)

  • > 25% Gạo cứng (hàm lượng amylose cao)

 6. Nhiệt độ trở hồ (GT): Là đặc tính chỉ nhiệt độ nấu gạo thành cơm và không thể trở lại trạng thái ban đầu. GT thay đổi từ 55 đến 79 0C. GT trung bình là điều kiện tối hảo cho chất lượng gạo tốt.

  • § GT thấp 55 - 69 0C

  • § GT trung bình 75- 79 0C

  • § GT cao 75 - 79 oC

 7. Độ bền gel: Tiêu chuẩn Quốc tế cho độ bền gel dựa vào chiều dài gel. Trong nhóm gạo, các giống có cùng hàm lượng amylose nhưng độ bền gel cao hơn được ưa chuộng hơn.

1        80 - 100 mm                   Mềm

          3        61 - 80 mm                     Mềm

          5        41 - 60 mm                     Trung bình

          7        36 - 40 mm                     Cứng

         9        < 35 mm                         Cứng

 8.  Hương vị (mùi thơm):

          Vị ngon hoặc hương thơm trong gạo được tạo bởi hóa chất diacetyl-1- pyroproline. Đánh giá tiêu chuẩn theo Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc Tế (IRRI) được chia làm 3 mức độ:

  • § Cấp 0 Không thơm

  • § Cấp 1 Ít thơm

  • § Cấp 2 Thơm nhiều

  • Thành phần dinh dưỡng của gạo:

Hạt gạo không chỉ nuôi sống con người bao đời nay nhưng gạo cũng là sản phẩm dinh dưỡng có giá trị cao hàng đầu trong các loại lương thực.



  • Gluxit (đường bột): Thành phần dinh dưỡng chính của hạt gạo là gluxit chiếm 70-80% tập trung ở lõi gạo. Gạo giã càng trắng thì lượng gluxit càng cao. Gluxit gạo chủ yếu là tinh bột (polisacarit) còn một ít đường đơn, đường kép nằm ở mầm và cùi alơron.

  • Protein. Protein gạo thấp hơn mì và ngô (7-7,5%) nhưng giá trị sinh học tốt hơn, gạo giã càng trắng lượng protein càng giảm. So với protein trứng thì protein gạo thiếu lysin vì vậy khi ǎn nên phối hợp với thức ǎn động vật và đậu đỗ Lipit trong gạo thấp 1-1,5% nằm ở cùi và mầm.

  • Chất khoáng. Gạo có ít Ca, nhiều P nên gạo là thức ǎn gây toan.

  • Vitamin. Gạo là nguồn Vitamin nhóm B, lượng B1 đủ cho chuyển hóa gluxit trong gạo. Tuy nhiên, hàm lượng Bi còn phụ thuộc vào độ xay xát vì B1 nằm nhiều ở cùi alơron. Nếu xay xát kỹ thì B1 sẽ mất nhiều theo cám.

Ở hạt gạo nguyên có:

+Vitamin B1: 0,38mg% Niaxin: 4,1mg%

+Vitamin B2: 0,1 mg% Biotin: 0,004 mg%

+Vitamin B6: 1,0 mg% Axit Pantotinic:1,7 mg%

Hạt gạo xay trǎng lượng vitamin còn như sau:

+Vitamin B1: 0,08mg% Niaxin: 1,9mg%

+Vitamin B2: 0,04 mg% Biotin: 0,004 mg%

+Vitamin B6: 0,30 mg% Axit Pantotinic:0,66 mg%

Trong các loại gạo thì gạo lức còn giữ lại một phần vỏ cám bên ngoài hạt gạo trong quá trình chế biến. Gạo lức cung cấp nhiều thành phần carbohydrate, vitamin nhóm B, chất xơ, chất dầu, sắt, kali, kẽm, các yếu tố vi lượng và chất khoáng được tìm thấy nhiều ở phần bọc ngoài của hạt gạo lức. Chính vì vậy, gạo lức là một loại thực phẩm nhiều dinh dưỡng hơn nhiều so với gạo trắng. Các nghiên cứu cho thấy những thành phần có trong gạo lức giúp cho phòng ngừa những bệnh trong hệ tiêu hóa và tim mạch. Để giảm cân, giảm cholesterol xấu trong máu… nhiều người đã chọn gạo lức làm lương thực chính thay cho gạo trắng. Một số loại gạo lức từ nguồn gốc từ loại gạo có hàm lượng cao protein, mới đây các khoa học gia Ấn Ðộ và Hoa Kỳ đã tạo ra giống lúa lai có hàm lượng protein lên tới 12.4% trong khi các giống lúa trồng chỉ có hàm lượng protein trung bình là 9.5%.

  1. Các nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng gạo Việt Nam

  • Giống lúa:

Theo Viện Lúa ĐBSCL, các giống lúa hiện đang được dùng trong sản xuất đại trà có thể kháng rầy nâu và đạo ôn là OM 576, IR 64, VND 95-20, AS 996, OMCS 2000, IR 50404, OM 2517, OM 4498, ST3, OM 2395,... Những giống phải thận trọng khi dùng có Jasmine 95, OM 1490, OM 2514, OM 3536. Giống ST lai tạo của tỉnh Sóc Trăng được trồng trên diện tích rộng, tỏ ra rất triển vọng về năng suất và chất lượng gạo, cũng như tính kháng sâu bệnh. Trong tình hình lương thực ngày càng khan hiếm, giá vật tư nông nghiệp "phi mã", bà con nên trồng những giống cao sản, kháng sâu bệnh tốt như OM 576, IR 50404,...; hạn chế những giống lúa thơm đặc sản cao sản như Jasmine 85, OM 3536...

  • Biện pháp canh tác:

  1   2   3

Thêm một tài liệu vào blog hoặc website của bạn

liên quan:

MỤC LỤC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM iconHÃY LÀM CHO NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ ỨNG DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRỞ THÀNH KHÂU KHUẾCH ĐẠI GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA MỖI DOANH NGHIỆP

MỤC LỤC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM iconG iới thiệu Công ty Cổ phần Thủy sản Việt Thắng
«Năng suất Chất lượng Hiệu quả» và cam kết cung cấp thức ăn thuỷ sản đạt chất lượng, đảm bảo không có dư lượng kháng sinh trong danh...

MỤC LỤC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM iconQUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG Ban hành Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu phải kiểm tra Nhà nước về chất lượng năm 2000

MỤC LỤC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM iconQUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG Ban hành Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu phải kiểm tra Nhà nước về chất lượng năm 2000

MỤC LỤC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM iconSỬ DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG ĐỂ PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

MỤC LỤC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM iconNền kinh tế nước ta trong thờ kỳ bao cấp không thừa nhận sức lao động của con người là hàng hoá, là một yếu tố đầu vào của nền sản xuất, do đó chất lượng của

MỤC LỤC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM iconLIÊN TỊCH BỘ THƯƠNG MẠI BỘ CÔNG NGHIỆP SỐ 04/2004/TTLT/BTM/BCN NGÀY 28 THÁNG 7 NĂM 2004 HƯỚNG DẪN VIỆC GIAO VÀ THỰC HIỆN HẠN NGẠCH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KỲ NĂM 2005

MỤC LỤC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM iconĐồng chí hãy vận dụng lý luận triết học về mối quan hệ vật chất và ý thức để phân tích phê phán bệnh chủ quan duy ý chí và phân tích bài học kinh nghiệm sau

MỤC LỤC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM iconLIÊN TỊCH BỘ THƯƠNG MẠI BỘ CÔNG NGHIỆP SỐ 07/2005/TTLT/BTM/BCN NGÀY 01 THÁNG 04 NĂM 2005 BỔ SUNG THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 04/2004/TTLT/BTM/BCN NGÀY 28/7/2004 HƯỚNG DẪN VIỆC GIAO VÀ THỰC HIỆN HẠN NGẠCH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KỲ NĂM 2005

MỤC LỤC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM iconLIÊN TỊCH BỘ THƯƠNG MẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ BỘ CÔNG NGHIỆP SỐ 02/2003/TTLT-BTM-KHĐT-CN NGÀY 27 THÁNG 5 NĂM 2003 HƯỚNG DẪN VIỆC GIAO VÀ THỰC HIỆN HẠN NGẠCH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KỲ NĂM 2003

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương