Vấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại Bài làm




tải về 0.79 Mb.
TênVấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại Bài làm
Chuyển đổi dữ liệu19.09.2012
Kích0.79 Mb.
loạiTài liệu
Vấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại

Bài làm

Tình hình thế giới trong những năm gần đây vẫn diễn biến rất phức tạp. CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ khiến CNXH tạm lâm vào thoái trào. CNXH hiện thực đứng trước nhiều khó khăn thử thách to lớn, song nước ta vẫn kiên trì mục tiêu tiếp tục xây dựng đất nước đi lên CNXH. Trước những sai lầm các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới xây dựng đất nước đi lên CNXH, trong đó có sự đổi mới về đường lối đối ngoại. Quan điểm đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước trong giai đoạn hiện nay. Sự đổi mới này đã thực sự mang lại hiệu quả và thành tựu to lớn, tạo điều kiện cơ bản cho chúng ta ổn định tình hình kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, phát huy nội lực để xây dựng đất nước

I. Đặc điểm tình hình thế giới và xu thế quan hệ quốc tế tác động đến chính sách, đường lối đối ngoại của các quốc gia trong đó có Việt Nam

1. Đặc điểm tình hình thế giới

Sau những biến cố chính trị ở các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô, tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp chứa đựng những yếu tố khó lường

- Chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ khiến cho chủ nghĩa XH thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, song điều đó không làm thay đổi tính chất của thời đại, loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên chủ nghĩa XH, những mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại, có mặt phát triển sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra với nhiều hình thức. Cục diện quốc tế đang hình thành, các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác với nhau, mâu thuẩn giữa CNXH và CNTB đã chuyển biến từ đối đầu trực tiếp sang đối thoại Mặt khác,. CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, mối quan hệ giữa các nước XHCN anh em hạn chế, chúng ta không còn chổ dựa nào khác ngoài việc tự nổ lực tìm con đường phát triển kinh tế xã hội cho riêng mình. Điều đó đã tác động trực tiếp đến đường lối đối ngoại của Đảng ta, buộc Đảng ta phải đưa ra đường lối đối ngoại đổi mới thích hợp nhằm thêm bạn bớt thù để có điều kiện ổn định tình hình chính trị, xây dựng kinh tế xã hội.

-
3 - 2
Cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng SX, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, tạo ra xu thế quốc tế hóa nền kinh tế toàn cầu và đời sống xã hội. Quá trình toàn cấu hóa đặt ra cho các đang phát triển những thời cơ và thách thức. Thời cơ do sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ tạo ra là nó đã tác động đến nền tảng kinh tế của tất cả các quốc gia, tạo ra xu thế đổi mới, cải cách cả về kinh tế và chính trị xã hội. Nó đã tạo ra những điều kiện để phân loại phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất mà các nước nghèo và chậm phát triển có thể tranh thủ ngay những thành tựu và điều kiện đó để phát triển đất nước. Thách thức do cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tạo ra là vì những thành tựu của nó một phần đã bị con người sử dụng vào mục đích chiến tranh để sản xuất ra những loại vũ khí giết người hàng loạt có thể hủy diệt nền văn minh nhân loại. Mặt khác nó cũng còn tạo ra những thách thức về khoảng cách giàu nghèo và về vận tốc phát triển đối với các nước nghèo và chậm phát triển về kinh tế. Chính những thời cơ và thách thức lớn mà cuộc cách mạng KHKT và CN tạo ra buộc chúng ta phải đổi mới đường lối đối ngoại để hợp tác với các nước trên thế giới nhằm tiếp cận nhanh chóng, tranh thủ được những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại tiên tiến, tạo điều kiện đi tắt đón đầu để đẩy nhanh công cuộc phát triển đất nước

- Nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt bị đẩy lùi nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi. Cộng đồng thế giới đang đứng trước những vấn đề có tính chất toàn cầu (bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo). Đó là những mâu thuẫn đang đặt ra có liên quan trực tiếp đến toàn bộ nhân loại, mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết được nếu không có sự hợp tác đa phương. Điều đó đòi hỏi để tồn tại và phát triển phải có sự xích lại gần nhau giữa các quốc gia để cùng nhau giải quyết.

- Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đang phát triển năng động với tốc độ cao nhưng cũng tiềm ẩn những nhân tố gây bất ổn định. Xét trên tổng thể Khu vực Châu Á Thái Bình Dương là khu vực tập trung một số nước có tiềm năng nhất thế giới về tài nguyên, kinh tế, khoa học và lao động, đây là thị trường lớn của thế giới, song nó cũng là khu vực bị các nước lớn trách nhiệm giành quyền lực, sự không đồng nhất về chính trị, những mâu thuẫn tôn giáo dân tộc và sắc tộc đậm nét, một số vấn đề biên giới chưa được giải quyết…

2. Xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế hiện nay :

Trước tình hình thế giới như vậy, Đảng ta đã nhận định xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế chủ yếu hiện nay đó là :

- Hòa bình ổn định và hợp tác để phát triển là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện nay. Đây là đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và các quốc gia trên thế giới.

- Các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác liên kết khu vực và quốc tế. Hợp tác, liên kết ngày càng tăng nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt.

- Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh chống lại sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền văn hóa dân tộc.

- Các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng tiến bộ trên thế giới vẫn kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và toàn bộ xã hội.

- Các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình. Đây là xu thế rất mới, thể hiện rõ tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp không phân tuyến trong giai đoạn hiện nay.

II. Quá trình hình thành đường lối chính sách đối ngoại

Việc hình thành đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng ta là một quá trình, bắt đầu từ khi Đảng ta ra đời đến nay nhưng rõ nhất là bắt đầu từ đại hội Đảng lần lần thứ VI.

1. Đại hội VI-1986:

- Về hoàn cảnh quốc tế, đến thời điểm của đại hội VI của Đảng có một đặc điểm nổi bật đó là chủ nghĩa xã hội hiện thực thế giới đã bộc lộ sự trì trệ cả về kinh tế và chính trị xã hội.

- Về tình hình trong nước, ngoài những khó khăn chung của như các nước khác, nước ta còn ba khó khăn lớn chưa được giải quyết đó là: Vấn đề Campuchia; vấn đề Mỹ cấm vận và vấn đề quan hệ với Trung Quốc.

- Trong hoàn cảnh như vậy, Đại hội VI của Đảng đã xác định các chủ trương lớn trong quan hệ quốc tế đó là: chủ trương thêm bạn bớt thù; tiến tới bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và tiến tới bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Từ cuối nhiệm kỳ Đại hội VI, Đảng ta đã có những hoạt động đẩy mạnh quá trình hoạt động quan hệ bình thường với Trung quốc, phá thể bao vây cấm vận của Mỹ chống Việt Nam. Cuộc gặp gỡ cấp cao giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Thành đô (Trung Quốc) tháng 9-1990 đã mở đầu cho quá trình khôi phục quan hệ bình thường với Trung Quốc, thực hiện đường lối đối ngoại trong sự nghiệp đổi mới. Có thể nói đại hội VI, ngoài việc khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước còn là đại hội chuyển hướng và mở cửa cho quan hệ ngoại giao của Việt Nam.

2. Đại hội VII-1991:

- Về hoàn cảnh quốc tế, đến thời điểm Đại hội VII của Đảng, chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu đã tan rã, còn chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sau 6 năm cải tổ đã gặp rất nhiều khó khăn cả về kinh tế và chính trị xã hội.

- Về tình hình trong nước, sau 6 năm đổi mới chúng ta vẫn giữ được sự ổn định chính trị xã hội và đạt được những kết quả bước đầu đáng kể và rất quan trọng về kinh tế.

- Đại hội VII của Đảng (tháng 6/1991) đã nêu rõ đường lối đối ngoại đổi mới của Việt Nam là độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế đối ngoại và tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu và hòa bình, độc lập và phát triển”

Đại hội VII cũng chỉ rõ nhiệm vụ của công tác đối ngoại là: “Giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

3. Hội nghị trung ương lần thứ ba khóa VII-1992:

Hội nghị trung ương lần thứ khóa VII-1992 là Hội nghị tiếp tục và cụ thể hóa hơn nữa đường lối chính sách đối ngoại của đại hội VII.

Đến cuối năm 1991, chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ hoàn toàn cả ở Đông Âu và cả ở Liên xô. Phạm vi của chủ nghĩa xã hội thế giới bị thu hẹp lại, chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thế thoái trào và ở vào hoàn cảnh khó khăn nhất từ trước đến nay.

Hội nghị TW lần thứ ba khóa VII đã xác định tư tưởng chỉ đạo của công tác đối ngoại là: “giữ vững nguyên tắc vì độc lập thống nhất và xã hội chủ nghĩa, đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như những diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với từng đặc điểm, từng đối tượng ta có quan hệ”.

Hội nghị trung ương 3 cũng chỉ rõ 4 phương châm của công tác đối ngoại là:

- Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

- Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại.

- Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế. Tránh hợp tác một chiều, tránh đấu tranh một chiều và tránh trực diện đối đầu trong quan hệ quốc tế hiện nay.

- Tham gia hợp tác khu vực và mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới.

Có thể nói Hội nghị trung ương lần thứ ba khóa VII, đường lối đối ngoại của Đảng ta đã ngày càng được bổ sung, phát triển hoàn thiện

III. Đường lối chính sách đối ngoại hiện nay của Đảng ta

Nhìn chung, từ khi có những thay đổi trong đường lối chính sách đối ngoại qua 2 kỳ Đại hội, có thể khẳng định rằng đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Điều đó đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện và 5 năm thực hiện NQ ĐH 7. Đại hội VIII đã khẳng định : đất nước ta đã vượt qua một giai đoạn thử thách gay go trong hoàn cảnh hết sức phức tạp khó khăn, nhân dân ta không những đứng vững mà còn vươn lên đạt được những thắng lợi nổi bật : đẩy lùi âm mưu bao vây cấm vận, bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, gia nhập khối ASEAN, quan hệ tốt với các nước Đông - Tây âu, thu hút được nhiều vốn đầu tư của nước ngoài và có quan hệ với trên 165 nước trên thế giới.

Với những thành tựu đã đạt được trong đường lối đối ngoại, kế thừa và phát huy những đường lối đúng đắn trong quan hệ đối ngoại, Nghị quyết Đại hội Đảng lần VIII khẳng định phương hướng của công tác đối ngoại trong thời gian tới là : “ Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển” (VK ĐH VIII NXB CTQG 1996 trang 120)

1. Đại Hội VIII :

Trên cơ sở những thành tựu của công cuộc đổi mới và những thắng lợi của công tác đối ngoại, Đại hội VIII của Đảng đã nêu rõ một số nội dung của đường lối chính sách đối ngoại trong giai đoạn hiện nay.

- Về mục tiêu của công tác đối ngoại đến năm 2020 và 2000 của Đại hội VIII xác định là: “mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động tham gia tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế”.

- Nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong thời gian tới là: “củng cố môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển KT – XH, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ XH”.

- Về phương hướng của công tác đối ngoại: “tiếp tục thực hiện động lực đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Theo hướng đó, Đại hội VIII đã khẳng định công tác đối ngoại có 4 trọng tâm là:

+ Ra sức tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN. Không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống. Coi trọng quan hệ với các nước phát triển và các tập trung kinh tế chính trị trên thế giới. Nêu cao tinh thần đoàn kết anh em với các nước đang phát triển và với phong trào không liên kết.

+ Tăng cường hoạt động ở Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế.

+ Phát triển quan hệ với các Đảng Cộng sản và công nhân, các lực lượng CM, độc lập dân tộc và tiến bộ; mở rộng quan hệ với các Đảng cầm quyền và các Đảng khác.

+ Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác phát triển.

2. Đại hội IX

T
3 - 6
iếp tục đường lối đối ngoại đã đề ra, Đại hội Đảng lần IX đã khẳng định nhiệm vụ đối ngoại là tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển KT- XH, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ XH.

Đường lối của công tác đối ngoại giai đoạn này là:

a- “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác đáng tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển” Có thể thấy rõ rằng việc thay từ “muốn làm bạn” của Nghị quyết Đại hội VII thành từ “sẳn sàng là bạn” của Nghị quyết Đại hội IX đã thể hiện sự nhận thức sâu sắc hơn của Đảng tà về bối cảnh và thực chất quan hệ quốc tế hiện nay cũng như xác định rõ hơn thái độ của chúng ta trong quan hệ quốc tế. Điều đó thể hiện ở chổ một mặt, thể hiện chính sách yêu hòa bình, hữu nghị của Việt Nam. Việc đổi từ “muốn” thành từ “sẳn sàng” thể hiện đúng đắn mong muốn chân thành của Việt Nam sẽ là bạn với những ai mong muốn là bạn với Việt Nam. Mặt khác, chúng ta biểu thị thái độ trách nhiệm cao trong quan hệ với các nước sẳn sàng là đối tác tin cậy của các nước, nghiêm chỉnh thực hiện mọi luật lệ và cam kết chung khi thiết lập quan hệ đối tác, điều đó cũng có nghĩa là chúng ta yêu cầu các đối tác phải nghiêm chỉnh thực hiện các hiệp định, cam kết đã thỏa thuận với chúng ta. Chỉ có như vậy mới quan hệ lâu dài.

b- “Mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” để tạo điều kiện phát triển đất nước đi lên trên con đường CNH-HĐH.

* Về việc mở rộng quan hệ đối ngoại :

Việc mở rộng quan hệ đối ngoại được thể hiện bằng việc mở rộng quan hệ song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước XHCN và các nước láng giềng, các nước Asian. Tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển. Thúc đẩy quan hệ đa phương với các nước phát triển và các tổ chức quốc tế. Tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu.

Việc mở rộng quan hệ đối ngoại được thực hiện theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thỗ, không can thiệp vào nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; bình đẳng và cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hòa bình; làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền.

Trên cơ sở đó, việc mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân còn có ý nghĩa là cho phép công dân Việt Nam hợp pháp có quyền đối ngoại nếu đảm bảo 3 điều kiện : một là đối tác mà ta quan hệ không có những hoạt động chống đối nhà nước và nhân dân Việt Nam, hai là đối tác được Nhà nước sở tại cho phép và ba là phải được một công dân Việt Nam hợp pháp, một cơ quan, một tổ chức chính thức trong nước bảo lãnh. Đây cũng là 3 điều kiện để kiều dân Việt Nam trở về tổ quốc.

* Về hội nhập kinh tế quốc tế :

Một trong những phương hướng lớn trong đường lối đối ngoại mà Đại hội lần IX của Đảng nhấn mạnh là vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” bắt nguồn từ nhận thức về quá trình toàn cầu hóa với những tác động tích cực và tiêu cực của nó. Từ sự phát triển vượt bật của KHCN, điều kiện SX vật chất đã vượt biên giới quốc gia và khu vực, nền đại công nghiệp tạo ra thị trường thế giới : chính những yếu tồ đòi hỏi sự hợp tác, phân công lao động ngày càng sâu, nó quy định sự tùy thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng giữa các nước trên thế giới trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế.

Nhận thức rõ xu thế ấy, Đảng ta không chủ trương theo đuổi đường lối biệt lập mà luôn luôn coi hội nhập kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia mà trong đó Việt Nam muốn phát triển kinh tế tất yếu phải đi theo con đường ấy. Cũng có ý kiến cho rằng Việt Nam không cần phải hội nhập hoặc từ từ hãy hội nhập kinh tế quốc tế, điều này có thể sẽ dẫn đất nước đến cảnh “một mình một chợ”, không bán được cho ai cũng không mua được gì của ai, điều đó chỉ gây thiệt thòi cho đất nước mà thôi. Mỗi bước đi trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, sự thận trong là cần thiết nhưng không thể chậm trễ, bởi Việt Nam đã là một trong những nước cuối cùng gia nhập WTO. Tất nhiên sẽ có những mất mát về lợi ích trước mắt, song về lâu dài, đó chính là con đường để phát triển, là cơ chế để chúng ta giải quyết những vấn đề khó khăn của kinh tế trong nước một cách hiệu quả.

Như vậy, mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế chính là nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ tiếp cận, ứng dụng KH công nghệ kỹ thuật hiện đại, tranh thủ các nguồn vốn, kiến thức quản lý để đầu tư vào sự nghiệp CNH-HĐH làm chuyển biến tích cực. Chính thông qua hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta có điều kiện học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước phát triển, giúp nước ta đi tắt đón đầu trong quá trình phát triển, tiếp nhận ngay những thành tựu KHKT của các nước tiên tiến. Đối với Việt Nam nước ta là một nước nghèo, lại bị hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại nên việc đi tắt đón đầu có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp chúng ta vượt nhanh để theo kịp quá trình tốc độ phát triển kinh tế thế giới.

Quán triệt chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng xác định rõ : hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình hợp tác vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức; do đó cần phải linh hoạt, khôn khéo, tỉnh táo trong xử lý tính 2 mặt của hội nhập, không nên nóng vội.

H
3 - 8
ội nhập kinh tế quốc tế là chấp nhận sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng gay gắt trên phạm vi toàn cầu đồng thời phải chấp nhận những luật lệ quy định chung về quan hệ kinh tế đang được áp dụng. Do đó, chúng ta phải khẩn trương xây dựng và thực hiện kế hoạch hội nhập kinh tế với lộ trình hợp lý và chương trình hành động cụ thể, phát huy tính chủ động của các cấp, các ngành và các doanh nghiệp. Phải nhận thức đầy đủ đặc điểm của nền kinh tế nước ta để đề ra kế hoạch và thời gian hợp lý, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế. Cần đặc biệt quan tâm kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia nhằm củng cố chủ quyền và an ninh tổ quốc, cảnh giác cao với những âm mưu diễn biến hòa bình.

Đồng thời chúng ta cũng cần phải thực hiện tốt một số nhiệm vụ cơ bản trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đó là :

- Tiến hành tuyên truyền rộng rãi nhằm nâng cao nhận thức và có sự thống nhất hành động về hội nhập kinh tế quốc tế..

- Xây dựng chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế với một lộ trình cụ thể .

- Chủ động và khẩn trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và trình độ quản lý. Nâng cao chất lượng hạ giá thành sản phẩm, tạo ra những sản phẩm mủi nhọn để hàng hóa và dịch dịch cụ của ta chiếm lĩnh thị trường thế giới và khu vực, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. .

- Tích cực tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại hình thị trường hàng hóa, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, đổi mới các công cụ, quản lý kinh tế thông thoáng, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, đổi mới các công cụ quản lý kinh tế, đổi mới và củng cố hệ thống tài chính, ngân hàng.

- Có kế hoạch cụ thể đẩy mạnh, công tác đào tạo nguồn nhân lực và vững vàng về chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và và CNXH, có đạo đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ và ngoại ngữ, có tác phong công nghiệp và tinh thần kỷ luật cao.

- Phải gắn kết chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế với nhiệm vụ củng cố an ninh quốc phòng ngay từ khâu hình thành kế hoạch, xây dựng lộ trình cũng như trong quá trình thực hiện.

- Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại.

- Tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập tổ chức thương mại thế giới theo các phương án và lộ trình hợp lý, thích hợp với hoàn cảnh của đất nước, gắn quá trình đàm phán với quà trình đổi mới mọi mặt hoạt động kinh tế ở trong nước.

- Kiện toàn ủy ban quốc gia và hợp tác kinh tế quốc đủ năng lực và thẩm quyền, giúp Thủ tướng chính phủ tổ chức, chỉ đạo các hoạt động về hội nhập kinh tế quốc tế

IV. Kết luận :

1. Nêu bài học kinh nghiệm của chiến lược đối ngoại rộng mở và hội nhập kinh tế quốc tế :

Qua quá trình thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta thời gian qua, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm và cũng là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình thực hiện việc mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế :

- Một là : phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản và bao trùm là chủ động hội nhập trên cơ sở đảm bảo giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng XHCN, đảm bảo vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Giữ vững độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập được thể hiện trước hết trong quyết sách hội nhập nhằm khai thác tối đa các lợi thế, đồng thời đối phó thắng lợi với các thách thức trong quá trình hội nhập.

- Hai là : thực hiện phương châm để tiến hành hội nhập là đảm bảo nguyên tắc cùng có lợi trong quan hệ song phương và đa phương mà nước ta tham gia. Theo nguyên tắc này, một mặt không để thiệt hại đến lợi ích cần có và hợp lý mà ta được hưởng, mặt khác phải chấp nhận một sự chia sẻ hợp lý lợi ích cho các đối tác tuỳ theo mức đóng góp của các bên đối tác

- Ba là : phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài

- Bốn là : tranh thủ các thời cơ thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế

- Năm là : thực hiện nhất quán phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế trong hội nhập.

- Sáu là : luôn luôn đề cao cảnh giác, không mơ hồ trước âm mưu đen tối của các thế lực thù địch lợi quan hệ kinh tế thương mại để xâm nhập, thực hiện diễn biến hòa bình, phá hoại, lật đổ chế độ ta.

2. Việc xác định đúng chính sách đối ngoại có ý nghĩa gì đối với nước ta và phong trào cách mạng thế giới

Quan điểm mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc đã khẳng định đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Điều đó đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn trong quá trình phát triển đất nước ta thời gian qua đã chứng minh rõ nét nhất. Kết quả đối ngoại những năm qua củng cố những bước tiến vững chắc của Việt Nam trên con đường đưa phương châm “Việt Nam sẳn sàng là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước” ngày càng trở nên hiện thực.

H
3 - 10
oạt động đối ngoại góp phần quan trọng cho việc duy trì và củng cố môi trường hòa bình và ổn định cho công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa. Phương cách của Việt Nam xử lý các vấn đề mới nảy sinh xuất phát từ lợi ích và nguyên tắc đối ngoại của chúng ta, đồng thời phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. Hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế đã trở thành một trong những tiêu chí để đánh giá công tác đối ngoại. Những hoạt động này đã góp phần không nhỏ để có những thành tựu trong những năm qua. Kinh tế đất nước tiếp tục tăng trưởng, chúng ta tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP trên 7%/năm, thu hút được khoảng trên dưới 2 tỷ USD đầu tư/năm, số lượng khách du lịch tăng trên dưới 8%/năm, đời sống mọi mặt của người dân được ổn định và phát triển, phá được thế bao vây, cấm vận, chính trị xã hội ổn định, trật tự an toàn xã hội luôn được nâng cao, đảm bảo. Củng cố được niềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội do Đảng ta khởi xướng và tổ chức thực hiện.

Chính nhờ thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, vị trí quốc tế của Việt Nam được nâng cao, nhất là trong ASEAN. Thông qua diễn đàn ASEAN và các hiệp ước song phương và đa phương, Việt Nam đã góp phần tạo thế cân bằng chiến lược chung và cơ hội thuận lợi hơn cho các quốc gia Đông Nam Á trong quan hệ các nước EU, nhất là hợp tác Á – Âu. Đối với Việt Nam, việc mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế có một ý nghĩa quan trọng. Nó sẽ tạo ra những thuận lợi để Việt Nam mở cửa phát triển giao lưu kinh tế, thương mại văn hóa song đồng thời cũng làm nảy sinh những khó khăn mới, nhiều vấn đề phức tạp phải giải quyết như : cải cách thể chế, chính trị, kinh tế, xã hội, đầu tư, luật pháp, thương mại, tài chính... trong từng thành viên và tổ chức quốc tế mà Việt Nam gia nhập. Đồng thời, với vị thế cao trên trường quốc tế, chúng ta càng phải chủ động, tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực và phải có trách nhiệm tham gia giải quyết những vấn đề có tính chất toàn cầu, đồng thời phải tiếp tục mở rộng quan hệ với tất cả các nước, các khu vực và các vùng đất còn lại mà ta chưa quan hệ trên thế giới

Phát huy những thế mạnh và thành quả đã đạt được, khắc phục những điểm yếu còn tồn tại trong đường lối đối ngoại, chúng ta tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, với sự hợp tác chặt chẽ của các Bộ, ban Ngành và Tỉnh thành, với sự tham gia toàn Đảng, toàn dân và toàn quân lại được soi sáng bằng Nghị quyết ĐH IX, trang bị bằng CN Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đối ngoại của ta đúng đắn của ta sẽ hoàn thành tốt hai nhiệm vụ vừa bảo vệ toàn vẹn độc lập tự chủ cả về chính trị lẫn kinh tế - văn hóa vừa xây dựng được một đất nước giàu mạnh, văn minh, dân chủ và công bằng.

Thêm một tài liệu vào blog hoặc website của bạn

liên quan:

Vấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại Bài làm iconĐƯỜNG LỐI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TA Đặc điểm tình hình thế giới

Vấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại Bài làm iconChương VIII ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI I. ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI (1975-1985)

Vấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại Bài làm iconCHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM

Vấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại Bài làm iconChính sách tiền tệ và quản lý ngoại hối của NHTW Chi lê và những bài học kinh nghiệm

Vấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại Bài làm iconTHANH TRA, KIỂM TRA LÀ MỘT PHƯƠNG THỨC QUANTRỌNG ĐỂ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI, CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ

Vấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại Bài làm iconMỤC LỤC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM THỜI KỲ 1975 – 1986

Vấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại Bài làm iconChính sách đối ngoại của Ấn Độ với Đông Nam Á giai đoạn 1991 2010 và tác động của nó

Vấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại Bài làm iconTÀI LIỆU GIẢNG DẠY CỦA VNP+
N điều chỉnh lượng đường trong máu. Bạn vẫn có thể tồn tại không cần tụy nhưng phải dùng insulin để điều chỉnh nồng độ đường huyết...

Vấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại Bài làm iconPhân tích quá trình diễn biến của Đạo Phật ở nước ta, liên hệ tình hình thực hiện đường lối chính sách TG nước ta hiện nay

Vấn đề 3 : Đường lối, chính sách đối ngoại Bài làm iconDANH SÁCH PHÂN LOẠI, TỔ CHỨC LẠI CÁC NHÀ MÁY, CÔNG TY ĐƯỜNG

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương