Đề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước




tải về 77.04 Kb.
TênĐề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước
Chuyển đổi dữ liệu19.09.2012
Kích77.04 Kb.
loạiTài liệu
Đề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước ta.

Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng: Phương thức sản xuất là cách thức tiến hành sản xuất vật chất của con người trong giai đoạn lịch sử nhất định. Phương thức sản xuất là một chỉnh thể do hai mặt của quá trình sản xuất cấu tạo nên nó là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Giữa hai mặt của quá trình sản xuất luôn gắn bó chặt chẽ, tác động biện chứng với nhau, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là hình thức của quá trình sản xuất xã hội. sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất diễn ra thường xuyên, phổ biến và là nhu cầu khách quan của toàn bộ tiến trình sản xuất vật chất xã hội, quyết định đến sự phát triển kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử, cũng như của từng hình thái. Mác là người đầu tiên đã khái quát vấn đề trên thành quy luật mà những người Mácxít vẫn gọi là Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trong những quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Sự tác động của quy luật đó cùng với các quy luật khác như quy luật hình thành giai cấp và đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội và Nhà nước … làm cho xã hội loài người vận động và phát triển từ thấp đến cao qua các giai đoạn trong lịch sử nhân loại.

Vậy thực chất của quy trên là gì ? Và sự nhận thức vận dụng quy luật ở nước ta hiện nay ra sao? Trước hết chúng ta cần làm rõ hai khái niệm cơ bản đó là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

Lực lượng sản xuất là sự thống nhất giữa người lao động và tư liệu sản xuất, tạo thành sức sản xuất của xã hội. Ngày nay nói đến lực lượng sản xuất cần chú ý đến nội dung hiện đại của khái niệm này. Đó là khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp cùng với công nghệ hiện đại, nó làm thay đổi sau sắc bộ mặt lực lượng sản xuất của nhân loại, nó quy định nội dung mới của sức sản xuất xã hội trong thời đại ngày nay. Chính vì lẻ đó mà Đảng ta quan niệm cùng với giáo dục đào tạo khoa công nghệ phải được coi là quốc sách hàng đầu. Còn quan hệ sản xuất đó là quan hệ kinh tế giữa người với người hình thành trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội. quan hệ sản xuất bao giờ cũng lf một chỉnh thể thống nhất của 3 mối quan hệ: quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu đối với tư liệu sản xuất (gọi tắt là quan hệ sở hữu); quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức quản lý sản xuất và trao đổi cho nhau trong sản xuất (gọi tắt là quan hệ quản lý); quan hệ giữa người với người trong việc phân phối sản phẩm xã hội làm ra (gọi tắt là quan hệ phân phối). Trong chỉnh thể quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định đối với các quan hệ khác, nó chính là mặt pháp lý của quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ quản lý và phân phối cũng rất quan trọng, vai trò của nó biểu hiện ở chổ có thể củng cố quan hệ sở hữu, cũng có thể làm xói mòn và đổ vỡ quan hệ sở hữu. Vì vậy nhận thức quan hệ sản xuất trong quan hệ với lực lượng sản xuất phải thấy rõ tính chỉnh thể của nó, không được có quan điểm thiếu đồng bộ.

Trên cơ sở hai khái niệm cơ bản, chúng ta đi sâu nghiên cứu nội dung quy luật. Khi chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng: Phương thức sản xuất là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội , thì điều đố có nghĩa là phải nhận thức sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất theo yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Nội dung quy luật chỉ rõ: Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất theo yêu cầu phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Sự quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được biểu hiện ở chổ: Lực lượng sản xuất ở trình độ và tính chất nào thì nó yêu cầu tất yếu một kiểu quan hệ sản xuất thích ứng phù hợp với nó. Điều đó có nghĩa là quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người, nhưng nó mang tính khách quan, do vậy con người không có quyền tự do lựa chọn quan hệ sản xuất theo ý muốn chủ quan của mình. Mọi quan hệ sản xuất chỉ hình thành, tồn tại trên cơ sở một lực lượng sản xuất nhất định và chịu sự quyết định của lực lượng sản xuất ấy. Ở đây cần hiểu rằng xác định lực lượng sản xuất ở tình trạng nào để xem xét quan hệ sản xuất phù hợp với nó chỉ là tương đối và lực lượng sản xuất luôn ở trạng thái vận động, phát triển liên tục. Khi nói lực lượng sản xuất ở trình độ nào (nghĩa là tính chất và trình độ nào) thì nó yêu cầu kiểu quan hệ sản xuất phát huy ở tình trạng đó, chứ nó không đòi hỏi quan hệ sản xuất cao hơn hay thấp hơn. Trong lịch sử nhân loại đã chứng minh rõ điều đó, khi lực lượng sản xuất ở trình độ thủ công, tính chất cá nhân của nó đòi hỏi quan hệ sản xuất về mặt sở hữu cũng mang tính tư hữu. Nếu lực lượng sản xuất ở trình độ cơ khí hóa, tự động hóa và tính chất xã hội hóa ngày càng cao thì nó yêu cầu quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của nó là kiểu quan hệ sản xuất mang tính xã hội, đương nhiên là quan hệ sản xuất có đáp ứng đúng đòi hỏi đó của lực lượng sản xuất hay không thì còn do nhiều nguyên nhân từ phía bản thân của quan hệ sản xuất.

Tính chất quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất còn biểu hiện: Lực lượng sản xuất là yếu tố thường xuyên biến đổi phát triển một cách năng động, vừa mang tính chất kế tục lịch sử, vừa mang tính cách mạng. Mỗi bước vận động phát triển của nó, đặc biệt khi lực lượng sản xuất có sự thay đổi căn bản từ trình độ này lên trình độ khác thì nó luôn luôn đòi hỏi quan hệ sản xuất cũng phải vận động phát triển cho phù hợp với nó. Nói cách khác mọi sự vận động phát triển của quan hệ sản xuất đều có nguyên nhân trực tiếp là từ sự vận động phát triển của lực lượng sản xuất. Các–Mác đã nói: Bất cứ sự thay đổi nào về mặt chế độ xã hội, bất cứ sự cải biến nào về mặt quan hệ chiếm hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những lực lượng sản xuất mới.

Vấn đề đặt ra là tại sao lực lượng sản xuất là yếu tố năng động hơn và vận động phát triển trước quan hệ sản xuất. Để trả lời vấn đề này chỉ có thể bắt đầu từ việc phân tích nhu cầu về vật chất và văn hóa của con người ngày càng cao, để đáp ứng nhu cầu của mình ngày càng tốt hơn, con người tất nhiên phải phát triển sản xuất vật chất. Quá trình phát triển sản xuất vật chất chỉ có thể thực hiện được nhờ con người bắt đầu bằng việc thay đổi cải tiến lao động của mình, đây là quá trình liên tục không bao giờ ngừng của mọi thế hệ con người từ trước đến nay. Nói cách khác đó là quá trình lực lượng sản xuất phát triển liên tục, sự phát triển ấy đòi hỏi quan hệ sản xuất cũng phải thay đổi theo. Với lý do đó, Mác nói: Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả các quan hệ sản xuất của mình.

Ngày nay trên thế giới khi mà lực lượng sản xuất đã mang tính chất quốc tế hóa rộng lớn và sâu sắc thì tất yếu đòi hỏi trong quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia, dân tộc cũng phải phát triển theo xu hướng đó. Việc hình thành các khối liên kết kinh tế quốc tế và khu vực, các hình thức công ty tất yếu đa quốc gia, xuyên quốc gia hay việc điều chỉnh ở phạm vi mức độ nhất định của quan hệ sản xuất trong các nước tư bản phát triển đều thể hiện đúng yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong điều kiện quốc tế hiện nay.

Như vậy, lực lượng sản xuất là yếu tố nhất định đối với quan hệ sản xuất, đây là sự quyết định của nội dung đối với hình thức của quá trình sản xuất. Song, quan hệ sản xuất không hoàn toàn phù hợp một cách thụ động vào lực lượng sản xuất, nó có vai trò độc lập tương đối trong sự tác động trở lại lực lượng sản xuất. Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai hướng: Phù hợp hoặc không phù hợp, điều này do quan hệ sản xuất mang tính ổn định tương đối và biến đổi chậm hơn so với của lực lượng sản xuất, mặt khác còn do trình độ năng lực của chủ thể sản xuất, do quan hệ lịch sử giai cấp chi phối.

Sự tác động của quan hệ sản xuất gọi là phù hợp với lực lượng sản xuất khi quan hệ sản xuất đó hình thành tồn tại đã tạo ra được khả năng liên kết giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất có hiệu quả hơn, do đó tạo ra địa bàn cho sự phát triển tốt hơn của lực lượng sản xuất. Vì vậy, khích thích được sản xuất, tiềm năng của người lao động và tư liệu sản xuất được khai thác tốt hơn, tạo ra sức lao động cao hơn. Khi nói con người ở trong thời kỳ biết tự giác nhờ trình độ tri thức phát triển cao mà chủ động xác lập quan hệ sản xuất thì chứng tỏ con người đã nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật, thực tế từ Đại hội VI của Đảng ta đã chứng minh điều đó.

Ngược lại nếu quan hệ sản xuất tác động không phù hợp với lực lượng sản xuất thì nó sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại đối với lực lượng sản xuất. Tình hình đó làm cho sản xuất có thể bị đình đốn, có khi dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm trọng.

Trường hợp này thường biểu hiện ở hai khuynh hướng. Một là quan hệ sản xuất lạc hậu so với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự lạc hậu này có thể diễn ra trên cả 3 mặt của quan hệ sản xuất hoặc 1 trong 3 mặt đó. Trong lịch sử điều này thể hiện rất rõ ở mỗi cuối giai đoạn phát triển của một phương thức sản xuất, làm cho lực lượng sản xuất tiên tiến mâu thuẩn gay gắt với quan hệ sản xuất lạc hậu, giải quyết mâu thuẩn này chỉ có thể bằng một cuộc cách mạng xã hội. Nhờ vậy mà xã hội có bước phát triển mới giống như Mác đã nói: Tới một giai đoạn nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội sẽ mâu thuẩn với những quan hệ sản xuất hiện có… từ chổ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất những quan hệ ấy trở thành xiềng xích trói buộc các lực lượng sản xuất, khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng xã hội. Hai là khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ có những yếu tố vượt quá xa so với trình độ của lực lượng sản xuất thì chẳng những không hề mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mà bản thân quan hệ sản xuất phá hại nghiêm trọng đối với lực lượng sản xuất. Trường hợp này thường do trình độ hiểu biết quy luật của con người thường bị hạn chế, chủ quan áp đặt theo ý muốn của mình. Do vậy để tránh sai lầm thiếu sót, con người phải không ngứng nâng cao trình độ hiểu biết và vận dụng quy luật của chính mình.

Tóm lại, thực chất của quy luật là lực lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản xuất phải luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Song, do nhiều yếu tố bản thân quan hệ sản xuất chi phối, cho nên quan hệ sản xuất phù hợp hoặc không phù hợp với lực lượng sản xuất. Do vậy, hiểu phù hợp ở đây là bao trùm mâu thuẩn, sự giải quyết mâu thuẩn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là thường xuyên và theo yêu cầu phù hợp, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đó là nguồn gốc động lực phát triển phương thức sản xuất, các hình thái kinh tế xã hội.

Đảng ta đã nhận thức và vận dụng quy luật này như thế nào? Ở đây chúng ta có thể tóm tắt thành hai thời kỳ lớn: Thời kỳ trước Đại hội VI (Đại hội đổi mới toàn diện của Đảng) và thời kỳ sau Đại hội VI đến nay.

Nhìn tổng quát mà nói: Trước Đại hội VI bên cạnh những thành tích và những việc đã làm được của cách mạng xã hội, chúng ta phải thấy rằng Đảng ta có những sai lầm thiếu sót trong việc nhận thức và vận dụng quy luật xã hội, đặc biệt là nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Chúng ta có thể thấy rõ biểu hiện tập trung của những sai lầm thiếu sót ấy trong quan điểm chỉ đạo và chính sách cải tạo quan hệ sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất mới. Biểu hiện sai lầm về quan điểm cho rằng một nước lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội thì quan hệ sản xuất có thể đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển (cách mạng quan hệ sản xuất có thể làm trước khi có lực lượng sản xuất).

Về chủ trương chính sách lớn: Cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới chúng ta đã nôn nóng, ấu trĩ cho rằng chủ nghĩa xã hội chỉ tồn tại hình thức sở hữu quốc doanh và tập thể. Do đó chủ trương xóa nhanh các thành phần kinh tế không phải quốc doanh và tập thể, và xây dựng nhanh quan hệ sản xuất chưa dựa trên sở hữu quốc doanh và tập thể. Và chúng ta không thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ. Do đó không chấp nhận kinh tế thị trường, đa dạng hóa hình thức sở hữu, quản lý phân phối. Không thấy được đòi hỏi của lực lượng sản xuất đang ở trong tình trạng đan xen những trình độ, tính chất khác nhau để mà xác lập quan hệ sản xuất. Nói cách khác bỏ qua tư bản chủ nghĩa nhưng lại không thấy tính chất quá độ là đan xen tồn tại lâu dài của cả lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng.

Xác lập quan hệ sản xuất không trên cơ sở thực trạng lực lượng sản xuất mà còn xác lập không đồng bộ và có yếu tố đẩy quá xa. Vượt lên trên trình độ của lực lượng sản xuất ở chổ: Không đồng bộ trong các ngành, trong cơ cấu kinh tế, trong bản thân 3 mặt của quan hệ sản xuất; vượt quá xa lực lượng sản xuất thể hiện ở những mô hình quan hệ sản xuất quốc doanh và tập thể. Chúng ta đã đi tới chổ đồng nhất cách mạng sở hữu với cách mạng quan hệ xã hội. cách mạng quan hệ sản xuất với toàn bộ cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng nhất hình thức kinh tế với kiểu quan hệ sở hữu, quy mô của quan hệ sở hữu với bản chất quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Và sai lầm thiếu sót khác nữa là áp dụng cơ chế quản lý kinh tế quan liêu thời chiến vào trong quan hệ sản xuất vốn đã xác lập không phù hợp với lực lượng sản xuất, do đó cơ chế này đã làm ngưng động tính sáng tạo của người lao động, kìm hãm lực lượng sản xuất, và đã không sớm nhận thức được sai lầm đó, nên đã kéo dài, ăn sâu vào nếp nghĩa, nếp hành động của thực tiễn, cho nên trở thành khó thay đổi và trở nên quan liêu bảo thủ. Coi thường tính tất yếu kinh tế của sản xuất nhỏ đang chuyển sang sản xuất lớn, nghĩa là thông qua sản xuất hàng hóa thị trường mới đi lên được. Từ thực tiễn cuộc sống đã giúp chúng ta tỉnh ngộ và rút ra được những bài học thấm thía.

Để khắc phục những sai lầm trên và vận dụng có hiệu quả quy luật này, Đại hội VI của Đảng ta đề xuất quan điểm đổi mới toàn diện, trong đó đặc biệt chú ý đổi mới nhận thức và vận dụng quy luật khách quan . Đại hội VII tiếp tục khẳng định và phát triển hơn nữa của quan điểm Đại hội VI. Những quan điểm và chính sách sau đây chứng tỏ Đảng ta đã trưởng thành rất lớn trong tư duy lý luận khi nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất.

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật chung phổ biến. Khẳng định lực lượng sản xuất là cái quyết định quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất phải hình thành trên cơ sở lực lượng sản xuất và tác động đến lực lượng sản xuất nhằm thúc đẩy lực lượng sản xuất. Trong hoàn cảnh một nước sản xuất nhỏ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, quy luật này có những biểu hiện đặc thù. Song, nó vẫn là nó chứ khống biểu hiện trái quy luật như trước đây chúng ta nhầm tưởng, nghĩa là nước ta quy luật chung không biểu hiện ở chổ lực lượng sản xuất đã phát triển ở mức cao mâu thuẫn với quan hệ sản xuất lạc hậu đòi hỏi phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới và khi xây dựng được quan hệ sản xuất mới thì cơ bản có phù hợp giữa trình độ và tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất công hữu, mà ở nước ta cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đều ở trình độ tiền tư bản. Vì vậy, trên cơ sở xã hội từng bước lực lượng sản xuất mà xác lập quan hệ sản xuất từ thấp đến cao với sự đa dạng hóa sở hữu, quản lý, phân phối cho phù hợp với lực lượng sản xuất.

Phải nhận thức đúng tính khách quan của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tồn tại, phát triển trong cơ chế thị trường. Song, vì mục tiêu là tiến lên chủ nghĩa xã hội cho nên phải có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Từ đó phải cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những hình thức và bước đi thích hợp làm cho quan hệ xã hội phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Đại hội VII đã phát triển thêm quan điểm này của Đại hội VI, chỉ đạo quá trình vận dụng quy luật là: Phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, thực hiện nhiều hình thức phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu. Cụ thể là sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế, phát triển và khai thác những kế hoạch của các thành phần kinh tế phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sử dụng trong khuôn khổ pháp luật. Cải tạo ở đây là lâu dài không đồng nhất xóa bỏ mà là cải biến dần dần một cách tự nguyện theo sự định hướng xã hội chủ nghĩa và cải tạo bao gồm loại bỏ các yếu tố tiêu cực, lạc hậu, và kế thừa những mặt mạnh để phát triển.

Tóm lại, khi chúng ta nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất cùng các hệ thống, các quy luật kinh tế xã hội khác của nền kinh tế hàng hóa thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất định chúng ta sẽ thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Thêm một tài liệu vào blog hoặc website của bạn

liên quan:

Đề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước iconChi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu chất lượng quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất. Mối quan tâm hàng đầu của người làm công

Đề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước icon2. Đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước chủ nghĩa ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất

Đề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước iconViệt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất- kỹ thuật, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển hoàn thiện

Đề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước iconKế toán là công cụ phục vụ quản lý kinh tế. Sự ra đời của nó gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất xã hội. Nền sản xuất càng phát triển kế toán

Đề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước iconKhông quân Mỹ đang phát triển về chất và lượng nhằm thực hiện các đòn tiến công tầm xa trong thời gian vỏn vẹn 10 phút

Đề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước iconVề việc phê duyệt Dự án “Xây dựng và Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001: 2008 vào hoạt động của 28 cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai” năm 2011

Đề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước iconPhân tích quá trình diễn biến của Đạo Phật ở nước ta, liên hệ tình hình thực hiện đường lối chính sách TG nước ta hiện nay

Đề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước iconPhân tích cơ sở khoa học hình thành cơ cấu tổ chức quản lý. Trình bày nội dung các loại hình cơ cấu tổ chức. Liên hệ thực tiễn cơ cấu tổ chức bộ máy ở đơn vị đồng chí

Đề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước iconVề việc ban hành Chương trình khoa học và công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, bảo hộ sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập giai đoạn 2011 2015

Đề 1 + 2: Nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ tình hình thực tiễn ở nước iconBÁO CÁO TỔNG KẾT TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN NĂM 2007 NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM 2008

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương