MỤC LỤC




tải về 0.5 Mb.
TênMỤC LỤC
trang8/12
Chuyển đổi dữ liệu19.09.2012
Kích0.5 Mb.
loạiTài liệu
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

3.2. BIỂU ĐỒ LUỒNG DỮ LIỆU

3.2.1. Các khái niệm


Biểu đồ luồng dữ liệu (Data Flow Diagrams - BLD) là một loại biểu đồ nhằm mục đích diễn tả một qúa trình xử lý thông tin với các yêu cầu sau:

- Sự diễn tả là ở mức logic, nghĩa là nhằm trả lời câu hỏi "Làm gì?" mà bỏ qua câu hỏi "Làm như thế nào?".

- Chỉ rõ các chức năng (con) phải thực hiện để hoàn tất quá trình xử lý cần mô tả.

- Chỉ rõ các thông tin được chuyển giao giữa các chức năng đó và qua đó phần nào thấy được trình tự thực hiện của chúng.

BLD là công cụ chính của quá trình phân tích, nhằm mục đích thiết kế trao đổi và tạo lập dữ liệu. Nó thể hiện rõ ràng và khá đầy đủ các nét đặc trưng của hệ thống trong các bước phân tích, thiết kế và trao đổi dữ liệu.

Hình thức biểu diễn: Trong một số tài liệu khác nhau với các phương pháp tiếp cận khác nhau người ta thường dùng các ký hiệu không hoàn toàn giống nhau. Tuy vậy các thành phần cơ bản không thay đổi và nó được sử dụng nhất quán trong các quá trình phân tích, thiết kế.

3.2.2. Các thành phần của biểu đồ luồng dữ liệu


BLD gồm có các thành phần sau:

- Chức năng xử lý (Process)

- Luồng dữ liệu (Data Flows)

- Kho dữ liệu (Data Store)

- Tác nhân ngoài (External Entity)

- Tác nhân trong (Internal Entity)
  1. Chức năng xử lý (Process)


+ Khái niệm: Chức năng xử lý được hiểu là các quá trình biến đổi thông tin, từ thông tin vào nó biến đổi, tổ chức lại thông tin, bổ xung thông tin hoặc tạo ra thông tin mới tổ chức thành thông tin đầu ra phục vụ cho hoạt động của hệ thống như lưu vào kho dữ liệu hoặc gửi cho các chức năng khác.

+ Biểu diễn: Chức năng xử lý được biểu diễn bằng hình tròn hay hình ôvan, trong đó có ghi tên của chức năng.

+ Tên chức năng: Bởi vì chức năng là các thao tác nên tên phải được dùng là một động từ cộng với bổ ngữ nếu cần, cho phép hiểu một cách vắn tắt chức năng làm gì.

Ví dụ: Chức năng “Mua hàng”, “Nhận đơn hàng”

C
ần chú ý rằng tên của chức năng trong biểu đồ luồng dữ liệu phải trùng với tên đã được đặt trong biểu đồ phân cấp chức năng. Khi xây dựng biểu đồ luồng dữ liệu nếu có chức năng nào không tạo ra thông tin mới thì nó chưa phải là chức năng trong biểu đồ luồng dữ liệu và khi đó cần phải xem xét lại biểu đồ phân cấp chức năng. Thông thường nên xem xét đến khả năng chức năng này đã bị tách ra khỏi chức năng khác một cách không hợp lý.
  1. Luồng dữ liệu


+ Khái niệm: Luồng dữ liệu là luồng thông tin vào hay ra của một chức năng xử lý. Bởi vậy luồng dữ liệu được coi như các giao diện giữa các thành phần của biểu đồ.

+ Biểu diễn: Luồng dữ liệu trên biểu đồ được biểu diễn bằng mũi tên có hướng trên đó có ghi tên là tên luồng thông tin mang theo. Mũi tên để chỉ hướng của luồng thông tin.

+ Tên luồng dữ liệu: Vì thông tin mang trên luồng, nên tên là danh từ cộng với tính từ nếu cần thiết, cho phép hiểu một cách vắn tắt nội dung của dữ liệu được chuyển giao.

Các luồng dữ liệu và tên được gán cho chúng là các thông tin “logic” chứ không phải là các tài liệu vật lý - giá mang thông tin. Tuy nhiên trong một số trường hợp tên dòng dữ liệu trùng (hoặc ta đã quen dùng) với tên tài liệu vật lý.

Ví dụ: “Hoá đơn”, “Hoá đơn đã kiểm tra”, “Điểm thi”, “Danh sách thi lại” , "Phiếu nhập", "Hồ sơ dự thi"



Hoá đơn

Ví dụ về chức năng xử lý và luồng dữ liệu tương ứng


  1. Kho dữ liệu


+ Khái niệm: Kho dữ liệu là các thông tin cần lưu giữ lại trong một khoảng thời gian, để sau đó một hay một vài chức năng xử lý, hoặc tác nhân trong sử dụng.

+ Biểu diễn: Kho dữ liệu được biểu diễn bằng cặp đoạn thẳng song song trên đó có ghi tên của kho.

+ Tên: Bởi vì kho chứa các dữ liệu nên tên của kho là danh từ kèm theo tính từ nếu cần thiết, nó nói lên nội dung thông tin chứ không phải là giá mang thông tin.

Ví dụ: Kho “Hồ sơ Cán bộ”, “Độc giả” v.v...

Biểu diễn mối liên quan giữa chức năng xử lý, kho dữ liệu, luồng dữ liệu trong biểu đồ luồng dữ liệu:




Ví dụ: việc quản lý lương của cán bộ, công nhân viên tại một cơ quan. Khi có nhân viên mới về cơ quan phải gửi các thông tin về lương của cá nhân cho bộ phận này. Bộ phận này kiểm tra tính đầy đủ và chính xác của các thông tin và lưu trữ các thông tin này. Theo định kỳ làm các bảng lương đồng thời thường xuyên cập nhật các thông tin mới về lương cho cán bộ công nhân viên.

Ta có thể mô tả mô tả các công việc đó của bộ phận quản lý lương như sau:







Một số chú ý khi xác định các kho dữ liệu:

- Không có luồng dữ liệu giữa hai kho dữ liệu




- Nói chung kho đã có tên nên luồng dữ liệu vào ra kho không cần tên chỉ khi việc cập nhật, hoặc trích từ kho chỉ một phần thông tin ở kho, người ta mới dùng tên cho luồng dữ liệu

- Đối với kho dữ liệu phải có ít nhất một luồng dữ liệu vào và ít nhất một luồng ra. Nếu kho chỉ có luồng vào mà không có luồng ra là kho “vô tích sự”, nếu kho chỉ có luồng ra mà không có luồng vào là kho “rỗng”.

-Trong biểu đồ luồng dữ liệu ta có thể đặt một kho dữ liệu ở nhiều nơi để thuận lợi cho việc theo dõi. (nhưng phải hiểu chỉ là một).
  1. Tác nhân ngoài


Tác nhân ngoài còn được gọi là Đối tác, là một người, một nhóm người hay một tổ chức ở bên ngoài lĩnh vực nghiên cứu của hệ thống nhưng có tiếp xúc, trao đổi thông tin với hệ thống. Sự có mặt của các nhân tố này trên sơ đồ chỉ ra giới hạn của hệ thống, và định rõ mối quan hệ của hệ thống với thế giới bên ngoài. Điều đáng chú ý là hiểu nghĩa “ngoài lĩnh vực nghiên cứu” không có nghĩa là bên ngoài tổ chức, chẳng hạn như với hệ thống xử lý đơn hàng thì bộ phận kế toán, bộ phận mua hàng và các bộ phận kho tàng vẫn là tác nhân ngoài. Đối với hệ thống tuyển sinh đại học thì tác nhân ngoài vẫn có thể là thí sinh, giáo viên chấm thi và hội đồng tuyển sinh.

Tác nhân ngoài là phần sống còn của hệ thống, chúng là nguồn cung cấp thông tin cho hệ thống cũng như chúng nhận các sản phẩm thông tin từ hệ thống.

+ Biểu diễn: Bằng hình chữ nhật có tên

+ Tên: Được xác định bằng danh từ kèm theo tính từ nếu cần thiết

Ví dụ:




Một số chú ý với tác nhân ngoài khi xây dựng biểu đồ

- Trong biểu đồ không có luồng dữ liệu giữa hai tác nhân ngoài .




- Trong một biểu đồ luồng dữ liệu ta có thể đặt một tác nhân ngoài ở nhiều chỗ để dễ đọc, dễ hiểu (nhưng phải hiểu chỉ là một).

Trong biểu đồ luồng dữ liệu không có luồng dữ liệu giữa tác nhân ngoài với kho dữ liệu




  1. Tác nhân trong


+ Khái niệm: Tác nhân trong là một chức năng hay một hệ thống con của hệ thống được mô tả ở trang khác của biểu đồ, nhưng có trao đổi thông tin với các phần tử thuộc trang hiện tại của biểu đồ. Thông thường mọi biểu đồ có thể bao gồm một số trang, đặc biệt là trong các hệ thống phức tạp và với khuôn khổ giấy có hạn thông tin được truyền giữa các quá trình trên các trang khác nhau được chỉ ra nhờ ký hiệu này. ý nghĩa của tác nhân trong với ký hiệu tương tự như nút tiếp nối của sơ đồ thuật toán.

+ Biểu diễn: Tác nhân trong biểu diễn bằng hình chữ nhật hở một phía và trong có ghi tên.

+ Tên tác nhân trong: Được biểu diễn bằng Động từ kèm bổ ngữ nếu cần.




Khi xây dựng biểu đồ một tác nhân trong có thể được đặt ở nhiều nơi trong biểu đồ cho dễ đọc, dễ hiểu.

Ví dụ: BLD diễn tả hệ thống cung ứng vật tư trong Ví dụ QLCƯVT ở phần trước.

4 chức năng chính:

  • Đặt hàng

  • Nhận, phát hàng

  • Đối chiếu và kiểm tra

  • Thanh toán

Tác nhân ngoài

  • Phân xưởng

  • Nhà cung cấp

Ta có biểu đồ lường dữ liệu sau:



3.2.3. Phân rã biểu đồ luồng dữ liệu theo mức


Với BLD thì quá trình phân rã từ trên xuống lại là quá trình thành lập dần dần các BLD diễn tả các chức năng của hệ thống theo từng mức.

Mỗi mức là một tập hợp các BLD:

  • Mức bối cảnh hay khung cảnh (còn gọi là mức 0) chỉ có một BLD, trong đó chỉ có một chức năng duy nhất - chức năng tổng quát của hệ thống và các luồng thông tin trao đổi với các tác nhân ngoài.

  • Mức đỉnh (còn gọi là mức 1) cũng chỉ có một BLD gồm các các chức năng chính của hệ thống.

  • Các mức dưới đỉnh( còn gọi là các mức 2,3,4,...) , mỗi mức gồm nhiều BLD được thành lập như sau:

Với mỗi chức năng mức trên, ta thành lập một BLD ở mức dưới, gọi là BLD định nghĩa (hay giả thích, diễn tả), chức năng đó, theo cách sau:

  • Phân rã chức năng đó nthành nhiều chức năng con.

  • Vẽ tại các luồng dữ liệu vào và ra chức năng trên nhưng nay phải vào hay ra ở các chức năng con thích hợp;

  • Nghiên cứu các quan hệ về dữ liệu giữa các chức năng con, nhờ đó bổ xung các luồng dữ liệu nội bộ hoặc các kho dữ liệu nội bộ.

Cách đánh số các chức năng

Các chức năng được đánh số theo ký pháp chấm theo dõi vệt triển khai từ trên xuống.

  • Các chức năng ở mức đỉnh được đánh số 1.2.3,....

  • Các chức năng ở các mức dưới đỉnh, chẳng hạn các chức năng mức 2 được đánh số là: 1.1, 1.2,...,2.1, 2.2,... Các chức năng mức 3 được đánh số là: 1.1.1, 1.1.2,...,2.1.1, 2.1.2,...

Khi triển khai dần các mức như trên ta phải tuân thủ một số quy tắc sau đây, gọi là các quy tắc về sự tương hợp giữa các mức:

  • Khi định nghĩa một chức năng ở mức trên thành một BLD ở mức dưới thì các luồng dữ liệu vào và ra chức năng đó phải được bảo toàn, nghĩa là phải được vẽ lại đầy đủ trong BLD định nghĩa. Khi bảo toàn từ mức trên xuống mức dưới như vậy thì một luồng dữ liệu có thể phân rã ra thành nhiều luồng con, nếu cần.

  • Các tác nhân ngoài phải xuất hiện toàn bộ trong BLD khung cảnh, và không được phát sinh mới ở các mức dưới. Tuy nhiên có thể vẽ lại một tác nhân ngoài ở mức dưới nếu thấy cần (chẳng hạn để thấy nơi xuất phát hoặc nơi đến của một luồng dữ liệu nào đó).

  • Các kho dữ liệu không xuất hiện trong BLD bối cảnh. Tuy nhiên chúng dần dần phát sinh ở các mức dưới khi cần đến .

Ví dụ 1: Trở lại Ví dụ về hệ thống thông tin ở cơ sở tín dụng thì quá trình phân tích trên xuống là như sau:

- Mức khung cảnh (mức 0): chức năng tổng quát của hệ thống là: Làm tín dụng. Tác nhân ngoài của hệ thống là khách vay(cũng có thể con có những đối tác khác như là Ngân hàng, chính quyền địa phương v.v., song ta tạm thời lược bỏ cho đơn giản ). Bổ sung các luồng dữ liệu trao đổi giữa hệ thống và tác nhân ngoài, ta có biểu đồ luồng dữ liệu khung cảnh như sau:





- Mức đỉnh (mức 1): Chức năng làm tín dụng có thể phân rã thành hai chức năng con là Cho vay và thu nợ. Ngoài ba luồng dữ liệu vào / ra ở mức khung cảnh được bảo toàn, thì ta thấy luồng thông tin trao đổi giữa hai chứcc năng cho vay và thu nợ là không trực tiếp, mà phải thông qua một kho dữ liệu , là sổ nợ. Từ đó có BLD mức đỉnh như sau:





- Mức dưới đỉnh (mức 2) Chức năng 1 được phân rã thành ba chức năng: Nhận đơn, duyệt vay và trả lời đơn . Còn chức năng 2 thì được phân rã thành 3 chức năng: Xác đinh kỳ hạn trả , xử lý nợ trả trong hạn và xử lý trả nợ ngoài hạn. Bảo toàn các luồng DL vào/ra và thêm các luồng DL nội bộ, ta lập được hai BLD định nghĩa hai chức năng 1 và 2 như sau:

  • Định nghĩa chức năng 1





  • Định nghĩa chức năng 2




Ví dụ 2: Biểu đồ luồng dữ liệu của hệ thống quản lý thư viện

-
Làm thẻ

Yêu cầu mượn
Mức khung cảnh:


- Mức đỉnh:




CChú ý:

  • Nếu cùng một hệ thống, mà ta tiến hành phân tích bằng cả hai cách: dùng BPC và dùng BLD thì đương nhiên giữa hai mô hình phải có mối liên quan ăn khớp: Luôn luôn phải có ánh xạ 1-1 giữa các chức năng trong BPC với các chức năng trong các BLD tương ứng.

  • Quá trình triển khai trên xuống không thể kéo dài mãi, mà phải dừng sau một số mức. Ta quyết định dừng quá trình, khi có những biểu hiện sau:

  • Các chức năng đã là khá đơn giản .

  • Với các hệ thống vừa và nhỏ số mức thường là 3, với các hệ thống lớn số mức cũng chỉ khoảng 6

Khi dừng việc triển khai bằng BLD, thì mỗi chức năng trong các BLD ở mức cuối cùng, ta phải cho một đặc tả trực tiếp.

Quá trình triển khai đã làm phát sinh rất nhiều tên gọi: tên chức năng, tên luồng dữ liệu, tên kho dữ liệu. Các tên đó rất dễ gây lầm lẫn cho các người dùng cũng như các người thiết kế sau này. Vậy phải lập một từ điển dữ liệu để giải thích các tên gọi đó.

3.2.4. Mô hình vật lý và mô hình logic


Việc phân tích thường được bắt đầu từ các mô hình chứa nhiều yếu tố vật lý mà mục đích của phân tích là đi tới một mô hình lôgic của hệ thống . Quá trình phân mức nói ở mục trên chỉ có thể dẫn ta vào những mô tả chi tiết, chứ không phải là đã đưa đến những mô tả lôgic. Bởi vì trong mô tả mà ta thu được(dưới dạng các BLD) thì vãn còn lẫn các yếu tố vật lý nào đó. Nhất là khi sự mô tả mà ta thành lập lại dựa trên sự khảo sát một hệ thống đang tồn tại , đang hoạt động , thì các yếu tố vật lý vốn đầy dẫy trong thực tế, sẽ có nhiều cơ hội lọt qua sự sàng lọc của người phân tích để đi vào các BLD được thành lập.

Có ba loại yếu tố vật lý có thể lẫn vào các BLD:

(1) Các yếu tố vật lý xuất hiện tường minh trong ngôn từ hay hình vẽ ở ttrong biểu đồ như là:

  • Các phương tiện, phương thức được dùng để thực hiện các chức năng (như máy tính, bàn phím, máy in, xủ lý thủ công v.v…)

  • Các giá mang thông tin (như đĩa từ, sổ sách, chứng từ trên giấy , đường điện thoại ...)

  • Các tác nhân thực hiện chức năng (như giám đốc, kế toán viên, thủ kho ...)

(2) Các chức năng vật lý, đó là những chức năng gắn liền với một công cụ hay một biện pháp xử lý nhất định , và sẽ không còn lý do tồn tại khi công cụ hay biện pháp đó bị thay đổi; chẳng hạn chức năng nhập dữ liệu vào máy tính sẽ không tồn tại nữa khi ta không dùng máy tính, và đó là một chức năng vật lý.

(3) Cấu trúc vật lý, ấy là cấu trúc chung của biểu đồ đang còn phản ánh trực tiếp cách bố trí, tổ chức hay cài đặt hiện tại, mà chưa phản ánh rõ bản chất lôgic của hệ thống , chưa thoát ra ngoài mọi cách cài đặt cụ thể, chẳng hạn ở hệ CƯVT ở nhà máy Z có 3 tổ công tác là: đặt hàng, nhận hàng/phát hàng và đối chiếu. Do đó một cách tự nhiên, BLD mức đỉnh được thành lập với 3 chức năng tương ứng với 3 tổ chức đó. Cấu trúc như vậy là cấu trúc chủ quan ,vì nó bị áp đăt bởi một hình thức tổ chức công việc có thể là còn tạm thời và chưa hẳn đúng thực chất .

Các yếu tố vật lý nói trên xen lẫn vào BLD, làm cho BLD phản ánh không thật trúng bản chất của hệ thống, cần phải gạt bỏ chúng ra khỏi biểu đồ .

Để loại bỏ các yếu tố vật lý loại (1), ta chỉ cần loại bỏ ra khỏi biểu đồ các phần ngôn từ hay hình vẽ biểu thị phương tiện, giá mang thông tin hay tác nhân, và chỉ giữ lại sự diễn tả nội dung của chức năng hay thông tin mà thôi, chẳng hạn :




Để loại bỏ các yếu tố loại (2), tức là các chức năng vật lý, trước hết phải làm cho chúng xuất hiện trong biểu đồ đã thường thì các chức năng vật lý là các chức năng nhỏ, chưa xuất hiện ở các BLD mức trên. Vì vậy ta phải triển khai các BLD xuống các mức thấp. Khi phân dã mỗi chức năng thành các chức năng nhỏ, ta sẽ tách được các chức năng vật lý rời khỏi các chức năng lôgic. Từ đó ta loại các chức năng vật lý ra khỏi biểu đồ.

Sau khi loại bỏ hết các chức năng vật lý ,thì các chức năng còn lại là các chức năng lôgíc và ta đang ở một mức thấp nào đó. Bấy giờ ta sẽ loại bỏ yếu tố vật lý loại(3), tức là cấu trúc vật lý, bằng cách tổ chức lại các biểu đồ, từ dưới lên trên ,xuất phát từ các chức năng lôgíc nói trên ,theo các bước như sau :

  • Trước hết do có các chức năng vật lý bị loại, một số luồng dữ liệu đã bị đứt quãng, ta phải tìm cách nối chúng lại cho liên tục .

  • Tiếp đó xem xét nội dung các chức năng lôgíc, tìm cách gom cụm các chức năng gần gũi và hợp tác với nhau trong một mục đích xử lý vào một chức năng lớn , cho dù trước đây chúng bị chia lìa bởi các lý do cài đặt. Làm như thế, đang ở mức dưới, ta lại thành lạp được BLD ở mức trên, và cứ thế tiếp tục, ta tổ chức lại các BLD ở các mức, cho đến mức đỉnh. Cấu trúc của các biểu đồ bấy giờ sẽ không còn mang tính chất vật lý nữa.

Tóm lại, từ BLD vật lý mức đỉnh, ta triển khai xuống các mức thấp, rũ bỏ các chức năng vật lý, rồi lại trở về các mức cao để chỉnh đốn lại cấu trúc của các biểu đồ. Rốt cục ta trở lại về mức đỉnh với một BLD lôgic. Quá trình đó được khái quát như sau:






1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

Đặt một nút trên trang web của bạn:
VnDocs


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vndocs.org 2012
được sử dụng cho việc quản lý
VnDocs
Quê hương